Nguyen Va March 11, 2016 No Comments

Phải đầu tư như thế nào khi lãi suất âm?

Khi mà các Ngân hàng trung ương (NHTW) trên toàn thế giới buộc phải áp dụng các chính sách phi truyền thống nhằm kích thích nền kinh tế như hiện nay, lãi suất âm thực sự là điều mà các nhà đầu tư phải làm quen.

Tối nay theo giờ Việt Nam, NHTW châu Âu (ECB) được cho là sẽ tiếp tục đẩy lãi suất ngày càng xa hơn con số 0. Hồi tháng 1, NHTW Nhật Bản đã gây bất ngờ khi áp dụng chính sách lãi âm. Theo số liệu thống kê, tính từ tháng 3/2008, các ngân hàng trung ương đã phải cắt giảm lãi suất đến 637 lần.

Chính sách lãi âm được áp dụng với mục tiêu khuyến khích các ngân hàng từ bỏ việc tích trữ tiền mặt và thay vào đó bơm tiền vào nền kinh tế thực để khuyến khích tăng trưởng. Lãi âm cũng hối thúc người tiêu dùng và doanh nghiệp tăng trả nợ. Tuy nhiên, chính sách này đang tạo nên những điều bất thường trên thị trường và rõ ràng là nhà đầu tư sẽ gặp nhiều khó khăn hơn trong công cuộc tìm kiếm lợi suất.

CNBC đã phỏng vấn các chuyên gia phân tích và nhà đầu tư để trả lời cho câu hỏi làm thế nào để thích ứng với việc các NHTW chuyển từ chính sách lãi suất gần 0 sang lãi suất âm.

Chứng khoán

Với quá ít lựa chọn, chứng khoán vẫn được coi là một tài sản đầu tư cơ bản có thể thay thế cho những tài sản khác đang mang đến mức lợi suất âm, theo chuyên gia Francesco Curto đến từ Deutsche Bank. Tuy nhiên, chuyên gia này cũng cảnh báo rằng nếu tính đến rủi ro thì mức lợi suất cũng không phải là cao.

Trong khi đó Ewen Cameron Watt, lãnh đạo cao cấp của BlackRock Investment Institute, chia sẻ ông nhìn thấy “một vài giá trị” ở các công ty tiêu dùng châu Âu.

Vàng

Những người bi quan về vàng thường phàn nàn rằng kim loại quý này không mang lại lợi suất hay thu nhập, tuy nhiên trong thế giới lãi suất âm, vàng lại trở nên hấp dẫn.

“Vàng là một tài sản thú vị. Khi các tài sản an toàn đều mang lại lợi suất âm như hiện nay, số 0 lại trở thành một lợi thế của vàng”, ngân hàng Societe Generale nhận định. “Bạn có thể mua hợp đồng quyền chọn mua vàng với dự báo giá sẽ đi xuống”.

Trái phiếu công ty

“Nếu kinh tế thế giới không suy thoái và lợi suất trái phiếu Mỹ ở mức trên 9%, trái phiếu châu Âu ở mức hơn 6% và Mỹ không rục rịch nâng lãi suất, chắc chắn là cơ hội sẽ xuất hiện ở nhóm trái phiếu rác”, Bill O’ Neill của UBS nói.

Tuy nhiên nhà đầu tư sẽ phải tập trung vào cấu trúc vốn của công ty để đảm bảo giảm thiểu được rủi ro.

Cổ phiếu tài chính

“Chúng tôi thích các ngân hàng châu Âu vì có nhiều khả năng các cổ phiếu này sẽ được nâng mức xếp hạng. Không có rủi ro vỡ nợ nhưng triển vọng lợi nhuận của nhóm này lại không mấy tươi sáng. Tuy nhiên các cổ phiếu này đang ở mức giá rất rẻ”, O’Nell nói.

Thêm vào đó khả năng các ngân hàng thực hiện tái cấu trúc cũng là một yếu tố tạo nên sức hấp dẫn của nhóm này.

Nguồn: CafeF

Nguyen Va March 8, 2016 No Comments

“Chính sách lãi suất âm có thể phản đòn”

Lãi suất âm được xem là cuộc thử nghiệm chính sách tiền tệ quan trọng nhất từ trước đến nay trên thế giới…

Lãi suất âm có nguy cơ phản tác dụng nếu các ngân hàng trung ương ở châu Âu và Nhật Bản có những bước tiến sâu hơn và kéo dài hơn vào “lãnh địa” chính sách tiền tệ chưa từng có tiền lệ này – các chuyên gia của Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS) cảnh báo.

Theo tờ Financial Times, lời cảnh báo trên được đưa ra trước thềm cuộc họp chính sách của Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) vào ngày 10/3. Giới phân tích dự báo ECB sẽ hạ lãi suất sâu hơn dưới 0% trong cuộc họp lần này, về mức -0,4% từ mức -0,3% hiện tại, nhằm ngăn nguy cơ giảm phát.

Lãi suất âm được xem là cuộc thử nghiệm chính sách tiền tệ quan trọng nhất từ trước đến nay trên thế giới.

Các nhà hoạch định chính sách xem lãi suất dưới 0 là một phần trong chiến lược nhằm kéo lạm phát tăng từ ngưỡng thấp tới mức đáng lo ngại hiện nay. Tuy nhiên, chính sách này đang vấp phải sự chỉ trích của các ngân hàng trung ương khác cho rằng đây là một chính sách “thiển cận” nhằm cố tình làm đồng tiền của nước áp dụng mất giá.

Các nhà đầu tư trong lĩnh vực tài chính cũng phê phán chính sách lãi suất âm. Họ nói các ngân hàng thương mại phải chịu phần phí tổn quá lớn cho cuộc thử nghiệm này của các ngân hàng trung ương.

Được coi là ngân hàng trung ương của các ngân hàng trung ương, BIS ngày 6/3 đã công bố một nghiên cứu nói rằng rất khó có thể đoán biết các cá nhân và định chế tài chính sẽ hành động thế nào nếu lãi suất tiếp tục giảm sâu hơn dưới 0 hoặc ở ngưỡng âm trong một thời gian kéo dài.

Chính sách lãi suất âm của các ngân hàng trung ương đến nay đã gây ảnh hưởng lên lãi suất đi vay trên thị trường tiền tệ – lãi suất mà các ngân hàng thương mại phải trả để được đáp ứng nhu cầu vốn. Tuy vậy, lãi suất âm vẫn chưa có tác động tích cực đến các doanh nghiệp và hộ gia đình như tác động mà việc cắt giảm lãi suất thông thường có thể mang lại.

Cho đến thời điểm hiện tại, các ngân hàng thương mại đang phải chịu gánh nặng của lãi suất âm, và nhìn chung vẫn chưa chuyển gánh nặng này sang cho khách hàng của họ. “Tính khả thi của mô hình kinh doanh của các ngân hàng và các tổ chức tài chính trung gian có thể sẽ lung lay”, báo cáo của BIS nhận định.

ECB và Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) đang là những ngân hàng trung ương lớn nhất đã áp dụng lãi suất âm. Ngoài ra, Ngân hàng Trung ương Thụy Điển đang áp dụng mức lãi suất -0,5%, và Ngân hàng Trung ương Thụy Sỹ đưa ra mức lãi suất -0,75%.

Giới quan sát đang nghi ngờ về tính hiệu quả của lãi suất âm. Sự nghi ngờ hiện rõ khi động thái hạ lãi suất xuống dưới 0% của BoJ chỉ ngăn được đà tăng giá của đồng Yên trong vài ngày.

Nghiên cứu của BIS cũng nêu rõ rằng lãi suất tiền gửi tiết kiệm của người dân đến nay nhìn chung chưa chịu tác động của lãi suất âm. Thậm chí, lãi suất đối với một số khoản vay thế chấp nhà ở Thụy Sỹ còn tăng lên, bất chấp lãi suất âm.

“Nếu chính sách lãi suất âm không dẫn tới việc giảm lãi suất cho các hộ gia đình và doanh nghiệp, thì chính sách này mất đi lý do để tồn tại”, các nhà kinh tế học của BIS nhận định.

“Ngược lại, nếu lãi suất âm truyền tải được ảnh hưởng đến lãi suất cho vay đối với các doanh nghiệp và hộ gia đình, thì chính sách này lại có ảnh hưởng xấu đến khả năng sinh lợi của các ngân hàng, trừ phi lãi suất âm cũng được áp dụng đối với các khoản tiền gửi tiết kiệm – mà điều này lại đặt ra nguy cơ đối với sự ổn định của lượng tiền gửi”, nghiên cứu cảnh báo.

Nguồn: VNEconomy

Administrator January 1, 2016 No Comments

Có nên mua USD vào năm 2016?

Năm 2015 chứng kiến USD tăng mạnh và câu hỏi đặt ra là liệu kèo này có còn tiếp diễn trong 2016 hay không? Sau khi FED nâng Lãi suất lần đầu trong gần 1 thập kỷ qua thì USD bắt đầu đi ngang mà không tăng nổi nữa, làm nhiều người băn khoăn. Thực ra, nguyên nhân chính đến từ việc giới đầu tư chốt lời các lệnh mua USD trước đó, vốn đã đánh theo kèo phổ biến nhất năm nay là kèo “mua USD” để chặn đầu việc tăng Lãi suấtcủa FED. Bây giờ, việc tăng Lãi suất đã diễn ra và bà con chốt lời, cùng với việc nghỉ trade vào cuối năm mà thôi.
Điều này có nghĩa là dòng tiền có thể lại chảy vào USD trong 2016.
Vài điều cần chú ý:
Việc nâng Lãi suất của FED sẽ không gây nên khủng hoảng. Nó có thể khiến nền kinh tế chậm lại trong nửa sau 2016 nhưng việc thụt lùi là khó. Nhiều nhà đầu tư lo lắng là các bước đi gần đây của FED sẽ tạo khủng hoảng nhưng có rất ít chỉ báo và giá dầu thấp cũng chưa bao giờ tạo sự đảo chiều kinh tế đối với Mỹ. Tất nhiên, điều này có thể thay đổi nếu FED nâng Lãi suất quá nhanh.
Phe cứng rắn sẽ sẽ đông hơn trong FOMC năm 2016 – Sự thể hiện của đồng USD sẽ gợi ý thời điểm FED nâng Lãi suất tiếp theo. Cuộc họp tiếp tới ngày 26-27/01 và gần như không có khả năng Lãi suất sẽ tăng tiếp, vì vậy, USD có thể đi ngang. Tuy nhiên, nếu FED tiếp tục lạc quan về nền kinh tế, dự đoán cho việc nâng Lãi suất vào tháng 3 sẽ tăng, tạo ra động lực mới cho đồng USD. Mỗi năm mới tới là FOMC lại đổi người bỏ phiếu và năm nay có 4 vị chủ tịch FED vùng được xoay tua. Bốn vị cứng và 1 vị mềm sẽ thay cho 1 vị cứng, 1 vị mềm và 2 vị trung dung. Vì vậy, sự cân bằng sẽ lệch sang phía muốn tăng LS. Khả năng USD sẽ còn lên tiếp.
Những năm tổ chức bầu cử thường tốt cho USD. Bảng bên dưới cho thấy USD Index thường tăng 5% trong suốt năm bầu cử với 8/10 lần như vậy. 1 / 2 năm maUSD giảm thì nó mất khoảng 0.5%. Có thể tranh luận là chính sách FED không bị tác động bởi bầu cử, nhưng thời điểm của các thay đổi chính sách lớn thường tương quan với các kỳ bầu cử.

forextrader.vn

Về mặt phân tích kỹ thuật, USD Index đang tạo 2 đỉnh. Tuy nhiên, vùng 96 là hỗ trợ mạnh và vùng này có thể đẩy Usd Index lên lại 100 trước khi nó chạm vào Fib 61.8 và giảm trở lại từ vùng 102. (xem biểu đồ bên dưới)

usd index

Nguồn: Trader Việt /  Bkassetmanagement.com

 

Administrator September 19, 2015 No Comments

Ai là người thực sự đứng sau mỗi đợt tăng lãi suất của Fed?

Mỗi đợt tăng lãi suất của Fed, trọng trách đều được đặt lên vai nhà kinh tế gốc Anh Simon Potter. Vậy ông là ai?

Simon Potter, 54 tuổi, là người chịu trách nhiệm thực thi các mục tiêu của Fed về lãi suất liên bang – loại lãi suất chủ chốt mà Fed dùng để điều hành chính sách tiền tệ. Potter phụ trách một nhóm các nhà giao dịch tại Fed New York tại tầng 9 của trụ sở ở Mahattan.

Sau khi kết thúc phiên họp 2 ngày vào 17/9, Ủy ban thị trường mở (FOMC) đã quyết định không nâng lãi suất – đang được duy trì ở mức cận 0 kể từ tháng 12/2008 đến nay.

Từ nay đến cuối năm Fed còn 2 phiên họp nữa, vào tháng 10 và tháng 12. Và, bất cứ khi nào Fed quyết định nâng lãi suất, điều đó chứng tỏ cơ quan này tự tin rằng nền kinh tế đã đủ khỏe để chịu đựng đồng tiền đắt đỏ hơn. Fed cũng phải lo lắng lãi suất quá thấp có thể tạo ra lạm phát.

Mặc dù trên toàn nước Mỹ có đến 12 ngân hàng dự trữ trực thuộc hệ thống của Fed, New York vẫn là anh cả. Chính sách tiền tệ được quyết định tại Washington và hàng trăm nhà kinh tế học cùng chuyên gia nghiên cứu trực thuộc hệ thống Fed sẽ tham gia thiết kế những công cụ mới để thực hiện chính sách đó. Cuối cùng người đưa những công cụ này đi vào hoạt động là ông Potter. Lúc đó, các chính sách tiền tệ mới chính thức được ra đời.

Nếu coi hệ thống tài chính Mỹ như một đường ống dẫn nước chảy xuyên suốt các hang cùng ngõ hẻm từ thành thị đến nông thôn nước Mỹ, thì Simon Potter chính là người vận hành hệ thống đường ống này bằng cách đóng và mở van để đưa dòng tiền đến những nơi Fed muốn.

Simon Potter

Simon Potter

“Simon là một nhân tài xuất chúng và giàu kinh nghiệm.” Carl Tannenbaum, kinh tế trưởng tại Northern Trust Chicago cho hay.

Fed đang tiến tới những giới hạn mà nó chưa từng chạm đến. Chưa bao giờ Fed phải cố gắng tăng lãi suất trong bối cảnh hệ thống ngân hàng đang ngập trong 2.500 tỷ USD tiền dự trữ như hiện nay. Các chuyên gia kinh tế và giới giao dịch đang cầu mong các thị trường tài chính sẽ không bị xáo trộn khi Fed bắt đầu thắt chặt chính sách tiền tệ.

Vấn đề là, Fed không thể chỉ đơn thuần thông báo về lãi suất. Ở Mỹ, lãi suất sẽ được quyết định bởi những lực đẩy trên thị trường. Việc duy nhất Fed có thể làm là tác động đến thị trường để khiến lãi suất liên bang hướng đến mục tiêu mà họ đã đề ra.

Nhiệm vụ này sẽ dễ dàng hơn rất nhiều khi tiền khan hiếm trên thị trường liên ngân hàng và xuất hiện những nhu cầu tự nhiên trên thị trường. Tuy nhiên, bối cảnh ngày nay khiến nhiệm vụ trở nên khó khăn hơn khi nguồn vốn đang dư thừa.

Ông Potter không phải lúc nào cũng là “bậc thầy sửa đường ống tài chính”. Trước khi đảm nhận vị trí Trưởng Bộ phận Thị trường của Fed năm 2012, ông là giám đốc phụ trách nghiên cứu lý thuyết kinh tế.

Theo tiiểu sử của ông trên website ngân hàng, chuyên môn nghiên cứu của ông là phân tích chuỗi thời gian ứng dụng sử dụng phương pháp Bayesia. Potter cũng từng tham gia giảng dạy tại trường đại học UCLA, Johns Hopkins, New York University và Princeton trước khi đầu quân cho Fed New York năm 1998.

Ông có bằng cử nhân và bằng thạc sĩ tại Đại học Oxford và bằng tiến sĩ tại Đại học Wisconsin. Hiện nay, ông đang quản lý các tài khoản thuộc hệ thống thị trường mở cho FOMC.

Potter khá nhạy cảm với “động lực học phi tuyến” – hệ thống không bao giờ di chuyển theo đường thẳng. Khả năng này sẽ giúp cho anh thực hiện tốt các mong muốn của ủy ban. Brian Sack, giám đốc kinh tế toàn cầu tại quỹ D.E. Shaw, tiền bối của Potter tại vị trí của anh hiện nay nhận định “Khả năng nhanh nhẹn sẽ là chìa khóa để đáp ứng với sự phát triển của thị trường và mục tiêu kiểm soát lãi suất trong ngắn hạn. Simon đã làm tất cả mọi thứ mọi người mong chờ để chuẩn bị sử dụng những công cụ Fed đưa ra.”

Và, với quyết định hôm 17/9 của Fed, có lẽ Simon Potter sẽ phải chờ đến cuối năm mới có thể sử dụng những công cụ này.

Nguồn Nhipcaudautu , Bloomberg

Administrator September 17, 2015 No Comments

FED thất bại với chính sách lãi suất thấp kỷ lục

Gần 7 năm sau khi FED hạ lãi suất xuống gần 0%, các nhà hoạch định Mỹ cho rằng chính sách lãi suất thấp và nới lỏng tiền tệ đã không thể thúc đẩy kinh tế như kỳ vọng.

Trong bối cảnh toàn cầu có dấu hiệu tăng trưởng chậm chạp, Mỹ vẫn là nền kinh tế có tốc độ phục hồi nhanh nhất khu vực Thái Bình Dương sau khủng hoảng 2008, nhờ các biện pháp kích thích chưa từng có của FED. Dẫu vậy, các nhà hoạch định chính sách vẫn chưa thực sự hài lòng với kết quả đạt được. Họ cho rằng chính sách lãi suất thấp và nới lỏng tiền tệ đã không thể tạo ra động lực thúc đẩy kinh tế Mỹ phục hồi bền vững như kỳ vọng.

Donald Kohn là cựu Phó chủ tịch Hội đồng Thống đốc FED trong giai đoạn cao trào của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, và cũng là một trong nhiều những quan chức tham gia xây dựng kế hoạch đối phó với khủng hoảng. Ông nhận định sự phục hồi của kinh tế Mỹ với tốc độ tăng trưởng trung bình năm 2,2% trong 6 năm qua thực sự đáng thất vọng.

“Tôi cũng dự đoán kinh tế Mỹ sẽ phục hồi chậm chạp, nhưng lượng tín dụng sẽ phải dồi dào hơn theo thời gian, và chính sách lãi suất suất gần 0% sẽ giúp kích thích chi tiêu hơn nữa. Vì vậy, tình hình đúng là đáng thất vọng”, ông Kohn nói.

Ngoài GDP, tăng trưởng lương hàng năm cũng chỉ đạt 2,2% – thấp hơn nhiều so với kỳ vọng của FED. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động tại Mỹ hiện cũng ở mức thấp nhất từ những năm 1970. Nguyên nhân là thế hệ sinh ra trong thời kỳ bùng nổ dân số bước vào tuổi nghỉ hưu và nhiều công nhân tiềm năng từ bỏ tìm việc làm.

Trong khi đó, lạm phát vẫn chưa thể lên mức mục tiêu 2% mà FED đề ra từ năm 2012, dù các nhà hoạch định chính sách đã hạ lãi suất xuống thấp kỷ lục và triển khai chương trình nới lỏng.

Tuy nhiên, Mỹ cũng đạt được một số thành tựu. Tỷ lệ thất nghiệp tính đến tháng 8/2015 đã xuống thấp nhất 7 năm ở 5,1%. Tốc độ tăng trưởng GDP quý II/2015 đạt 3,7% – cao hơn nhiều mức tăng trưởng trong thời gian dài trước đó.

Những thất bại của kinh tế cũng có thể quy cho một loạt yếu tố khác, như niềm tin đầu tư suy yếu vì khủng hoảng nợ châu Âu, chính sách tài khóa tại Mỹ bị thắt chặt và tăng trưởng năng suất yếu ớt.

Giáo sư Kenneth Rogoff tại Harvard từng nghiên cứu hậu quả của các cuộc khủng hoảng tài chính. Ông cho biết, nếu theo chu kỳ bình thường, FED đã phải nâng lãi suất ít nhất 6 tháng trước, do thị trường lao động đang phục hồi ổn định. “Tuy nhiên, đây không phải là một chu kỳ bình thường. GDP đang cải thiện, nhưng lạm phát nhích lên quá ít có vẻ chưa phải vấn đề to tát nếu so với rủi ro đẩy cả nền kinh tế vào suy thoái”, Rogoff nhận định.

Bức tranh kinh tế Mỹ trở nên phức tạp hơn khi những “điểm nóng” mới bắt đầu xuất hiện. Một ví dụ điển hình là thị trường bất động sản thương mại. Từ lâu, giá trị của lĩnh vực này đã vượt đỉnh thời tiền khủng khoảng – thời điểm mà bất động sản vốn đã là một rắc rối lớn với sự ổn định của hệ thống tài chính.

“Lãi suất thấp đã thúc đẩy nhu cầu về bất động sản thương mại, đặc biệt trong bối cảnh mọi người chỉ muốn kiếm lợi nhuận cao”, Phó Chủ tịch Don Capobres hãng bất động sản Grosvenor Americas nhận xét.

Ông Capobres cho rằng, việc FED nâng lãi suất sẽ ảnh hưởng rất lớn đến giá trị của lĩnh vực bất động sản. Tuy nhiên, giá bất động sản tại các thành phố cửa ngõ như Washington và San Francisco, được dự báo vẫn ở mức cao trong tương lai gần.

Một điểm nóng khác của kinh tế Mỹ là thị trường nợ doanh nghiệp. Trong 8 tháng đầu năm 2015, khi thời điểm chi phí vay vốn còn thấp, các doanh nghiệp Mỹ đã phát hành tổng 568 tỷ USD trái phiếu được xếp hạng “có thể đầu tư”. Con số này đã phá kỷ lục trong cùng kỳ các năm từ 2011.

Các doanh nghiệp tăng cường phát hành nợ một phần nhằm chi trả cho những thương vụ mua lại và sáp nhập lớn trên thị trường. Từ đầu năm 2015, các doanh nghiệp Mỹ đã bán ra hơn 211 tỷ trái phiếu rủi ro cao (trái phiếu rác), trong khi con số này chỉ đạt hơn 200 tỷ USD trong 8 tháng đầu của các năm tính từ 2011. Thậm chí thời điểm cao trào của bong bóng tín dụng năm 2007 cũng chỉ có 115 tỷ trái phiếu rủi ro được bán ra.

Jeremy Stein – một cựu thống đốc của FED hiện làm việc tại Đại học Harvard, cho rằng Ủy ban Thị trường mở Liên bang Mỹ (FOMC) đã đúng khi áp dụng chính sách lãi suất thấp kỷ lục vào thời điểm tỷ lệ thất nghiệp lên hơn 8%.

“Tuy nhiên, chính sách đó không phải là không có rủi ro. Khi đẩy giá tài sản lên cao và thắt dòng tín dụng lại, chắc chắn sự ổn định của hệ thống tài chính sẽ gặp rủi ro lớn. Đến một thời điểm nào đó, nó sẽ gây ra một cuộc suy thoái nhỏ”, ông Stein nói.

Những biến động gần đây trên các thị trường tài chính, cùng lo ngại xung quanh kinh tế Trung Quốc có thể khiến FED tạm dừng kế hoạch nâng lãi suất trong tháng 9/2015. Charles Plosser – cựu Chủ tịch Fed Philadelphia cho rằng FED cần chắc chắn rằng sẽ không quá phụ thuộc vào các thị trường tài chính.

“FOMC hay cuộc tranh luận giữa các quan chức FED càng chú trọng vào giá tài sản thì càng chứng tỏ họ chỉ quan tâm tới giá tài sản và sẽ hành động chỉ vì nó mà thôi”, ông Plosser nói.

Phát biểu của ông Plosser lại đưa ra một vấn đề lớn hơn. 8 năm trước, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã đẩy kinh tế thế giới tới bờ vực của sự sụp đổ, và buộc chính phủ các nước Thái Bình Dương đổ hàng trăm tỷ USD nhằm cứu vớt hệ thống ngân hàng phá sản. Tuy nhiên, 8 năm sau, các ngân hàng trung ương vẫn chẳng khá hơn khi hoạch định các chính sách tiền tệ, tài chính, nhằm đảm bảo kinh tế tăng trưởng ổn định trong dài hạn.

Những lý thuyết và phương pháp tiếp cận cũ rích nhằm vào lạm phát đã hoàn toàn thất bại khi kích hoạt cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2007 – 2009, do các nước phớt lờ lạm phát giá tài sản. Tuy nhiên, hiện nay khi giá một số tài sản đang ở mức cao, các nhà hoạch định chính sách vẫn ưu tiên trì hoãn tăng lãi suất do giá cả nhiều hàng hóa đang suy yếu.

Chẳng ai cần phải nhắc lại quyền lực của FED đối với thị trường toàn cầu. Bởi những ký ức về thời điểm cựu chủ tịch FED Paul Volcker kích hoạt cuộc suy thoái đầu thập niên 80 để chống lạm phát vẫn còn rất rõ ràng. Và đến nay, một lần nữa, số phận của kinh tế thế giới lại nằm trong sự phán xét của một vài cá nhân mà không có mô hình kinh tế đáng tin cậy nào hướng dẫn họ.

Nguồn VNExpress

Administrator September 17, 2015 No Comments

FED giữ lãi suất ở mức thấp kỷ lục

Quyết định giữ lãi suất cơ bản ở tiệm cận 0% của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ tiếp tục kéo dài sự chờ đợi của thị trường tài chính toàn cầu đến cuối năm.

Quyết định được đưa ra sau cuộc họp chính sách kéo dài 2 ngày của Uỷ ban Thị trường mở Liên bang Mỹ (FOMC) thuộc FED, trong đó trọng tâm là quyết định có nâng lãi suất từ mức tiệm cận 0%, vốn đã được duy trì trong gần 7 năm qua. Đây là quyết định ảnh hưởng đến hàng triệu người Mỹ và thị trường kinh tế – tài chính toàn cầu.

Thông cáo được FOMC đưa ra ngay sau đó cho biết lý do chính khiến FED tiếp tục trì hoãn tăng lãi suất là chỉ số lạm phát tại Mỹ vẫn chưa đạt mục tiêu 2%, triển vọng kinh tế toàn cầu vẫn bất định cùng với những xáo trộn trên thị trường tài chính thế giới thời gian gần đây.

“Tình hình kinh tế toàn cầu gần đây và những biến động tài chính có thể gây áp lực lên lạm phát trong ngắn hạn”, thông cáo được Chủ tịch FED – Janet Yellen đọc tại cuộc họp báo lúc 1h30 ngày 18/9 (giờ Hà Nội) nhận định.

Cũng theo bà Yellen, kinh tế Mỹ đang đi đúng hướng và chắc chắn. Tuy nhiên, FED sẽ tiếp tục duy trì chính sách lãi suất thấp để hỗ trợ tăng trưởng nhằm đạt được mục tiêu giảm tối đa tỷ lệ thất nghiệp (đang ở mức xấp xỉ 5%), đồng thời mục tiêu lạm phát trung hạn của nền kinh tế đạt mục tiêu 2%.

Tuy vậy, trả lời câu hỏi của phóng viên CNBC, người đứng đầu ngân hàng hàng trung ương Mỹ cũng tiết lộ phần lớn các thành viên của FED đều tin tưởng vào việc những tiến triển nêu trên có thể được phản ánh trong vài tháng tới, qua đó tiếp tục hàm ý về khả năng tăng lãi suất ngay trong năm 2015.

Trước đó, giới phân tích cũng như thị trường tài chính bị chia rẽ bởi những suy đoán liên quan đến quyết định của FED. Những người ủng hộ cho rằng tỷ lệ thất nghiệp thấp, sức mua cũng như tốc độ tăng trưởng ổn định của kinh tế Mỹ sẽ là cơ sở cho việc bình thường hoá lãi suất, sau thời kỳ nới lỏng để phục hồi. Trong khi đó, việc chỉ số phát vẫn chưa đạt yêu cầu, sức ép từ việc Trung Quốc phá giá nhân dân tệ và khối nợ doanh nghiệp Mỹ… là những lý do được đưa ra cho những nhận định cho rằng FED sẽ trì hoãn quyết định đến cuối năm.

* Tiếp tục cập nhật

Nguồn VNExpress

Administrator September 17, 2015 No Comments

Những điều cần biết về lãi suất Mỹ

Lãi suất liên bang là công cụ giúp FED kiểm soát nền kinh tế, đã được giữ gần 0% nhiều năm nay và có thể lên quanh 3% trong 2 năm tới.

Từ nhiều tháng nay, thị trường đang tập trung vào kế hoạch nâng lãi suất của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED), vốn đã duy trì gần 0% từ sau khủng hoảng 2008. Phiên họp 2 ngày của Ủy ban Thị trường Mở liên bang (FOMC) thuộc FED sẽ kết thúc hôm nay. Nếu được thông qua, đây sẽ là đợt tăng lãi đầu tiên của Mỹ kể từ năm 2006. Dưới đây là những điều nhà đầu tư cần biết về lãi suất Mỹ.

1. Lãi suất liên bang (federal funds rate) là gì?

Đây là mức lãi FED áp dụng cho các khoản vay qua đêm liên ngân hàng. Những thay đổi trong lãi suất này thường có tác động lớn lên nền kinh tế, ảnh hưởng đến lãi suất ngắn hạn và dài hạn, tỷ giá đồng đôla Mỹ và nhiều lĩnh vực khác, trong đó có tình hình việc làm và chỉ số giá tiêu dùng.

2. FED điều chỉnh lãi suất để làm gì?

Thông qua lãi suất này, FED có thể quản lý cung tiền trên thị trường. Họ sẽ hạ lãi suất để khuyến khích tiêu dùng và đầu tư, nhằm kích thích nền kinh tế. Ngược lại, khi nhận thấy Mỹ tăng trưởng quá nóng, FED sẽ nâng lãi.

Khi lạm phát tăng vọt giai đoạn 1979-1980, FED đã đẩy lãi suất lên kỷ lục 20% để bình ổn nền kinh tế. Nhưng việc này cũng khiến Mỹ rơi vào suy thoái trong 2 năm sau đó.

Sau khi Mỹ tăng trưởng chậm lại năm 2000, vì bong bóng cổ phiếu công ty Internet (bong bóng dotcom), FED đã dần hạ lãi suất để kích thích GDP. Nhưng việc này sau đó lại châm ngòi cho bong bóng nhà đất, dẫn đến cuộc khủng hoảng 2008.

3. Tại sao lãi suất hiện thấp như vậy?

Khi kinh tế Mỹ bắt đầu chững lại năm 2007, FED đã hạ lãi suất 10 lần, từ 4,75% tháng 9/2007 xuống 0-0,25% ngày 16/12/2008. Mục tiêu là ngăn Mỹ rơi vào một cuộc suy thoái nữa.

Từ đó, họ đã giữ lãi suất gần 0% để đưa nền kinh tế hồi phục sau cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất 8 thập kỷ qua. Giờ đây, khi Mỹ đang dần tăng trưởng, rất nhiều người cho rằng giữ lãi suất thấp thế này là không cần thiết nữa.

4. Lợi và hại của lãi suất thấp?

Lãi suất thấp kỷ lục khiến tín dụng dễ dàng phân bổ khắp nền kinh tế. Chính sách nới lỏng tiền tệ đã khuyến khích người dân mua nhà, mua xe, hỗ trợ thị trường bất động sản và ôtô tại Mỹ hồi phục nhanh hơn.

Nhưng mặt khác, lãi suất thấp lại đánh vào túi tiền các nhà đầu tư và người gửi tiết kiệm, khiến họ gần như chẳng có lời. Việc này cũng sẽ khiến lạm phát tăng tốc trở lại.

5. Bình thường hóa lãi suất là gì?

Một số quan chức FED đã tuyên bố rõ họ muốn lãi suất quay về mức “bình thường”. Họ dự báo lãi suất sẽ lên quanh 3% trong 2 năm, nhưng điều này sẽ còn phụ thuộc vào tốc độ tăng trưởng và lạm phát.

6. Kinh tế Mỹ đã sẵn sàng để tăng lãi suất chưa?

Đây là câu hỏi trị giá cả nghìn tỷ USD, và các ý kiến cũng rất đa dạng. Với những người lạc quan, FED đã làm rất tốt công việc phục hồi kinh tế Mỹ, so với nhiều nước khác. Vì thế, họ cho rằng tăng 0,25% cũng chẳng có mấy ảnh hưởng. Thay vào đó, đây còn là nước đi thông minh để đảm bảo mục tiêu lạm phát.

Nhưng những người bi quan thì cảnh báo lạm phát vẫn đang ở đáy. Và FED sẽ làm náo loạn thị trường tài chính, cũng như đẩy giá đồng đôla lên, nếu hành động quá sớm.

7. Lãi suất có tăng nhanh không?

Người ta tin rằng FED sẽ không để lãi suất tăng nhanh. Chính Chủ tịch FED – bà Janet Yellen cũng từng nói lãi sẽ được nâng lên từ từ. Tốc độ này được dự báo chỉ bằng nửa những lần tăng lãi trước của FED. Và khi dừng lại, nó cũng sẽ chỉ ở quanh mốc rất thấp – khoảng 3% mà thôi.

8. Ảnh hưởng của việc này lên nền kinh tế?

Điều chỉnh lãi suất liên bang sẽ có tác động lên các khoản vay ngắn hạn của các công ty và hộ gia đình. Chúng cũng sẽ có tác động liên hoàn lên các lãi suất dài hạn, như các khoản vay mua nhà hay lãi suất trái phiếu. Thay đổi trong lãi suất dài hạn lại kéo theo ảnh hưởng lên giá tài sản, trong đó có cổ phiếu.

Trong suốt thời kỳ khủng hoảng, FED cũng đã mua vào rất nhiều chứng khoán đảm bảo bằng tài sản thế chấp (MBS) và trái phiếu Chính phủ để hạ thấp lãi suất dài hạn.

Nguồn VNExpress

Administrator September 17, 2015 No Comments

Được – mất khi FED tăng lãi suất

Người gửi tiền sẽ rất vui mừng nếu được nhận lãi suất cao hơn, còn người đi vay, các hãng xuất khẩu và thị trường mới nổi thì ngược lại.

Câu hỏi lớn nhất của thị trường tuần này là liệu Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) sẽ tăng lãi suất ngay trong tháng 9 hay tiếp tục trấn an người tiêu dùng, doanh nghiệp và thị trường toàn cầu với quan điểm kiên nhẫn. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) từng cảnh báo với những nền kinh tế lớn rằng, giờ còn quá sớm để nâng lãi suất, do tăng trưởng toàn cầu vẫn còn nhiều rủi ro.

Tuy nhiên, trong cuộc họp chính sách ngày 16 – 17/9, các nhà hoạch định chính sách của Ủy ban Thị trường mở Liên bang (FOMC) thuộc FED nhiều khả năng sẽ quyết định nâng lãi suất trong ngắn hạn. Và nếu điều này xảy ra, chỉ một thay đổi nhỏ cũng có thể tạo nên những phản ứng trái chiều trên các thị trường.

Dù sớm hay muộn, việc FED nâng lãi suất cũng sẽ mang lại những ảnh hưởng cả tích cực và tiêu cực.

1. Tin xấu với người đi vay

Các khoản vay mua nhà sẽ đắt đỏ hơn với người Mỹ. Ảnh: US News

Các khoản vay mua nhà sẽ đắt đỏ hơn với người Mỹ. Ảnh: US News

Nếu FED tăng lãi suất, những người đi vay vốn dù ở nhiều mức lãi suất khác nhau, đều sẽ phải chịu tác động tiêu cực. Các khoản vay mua nhà trở nên đắt đỏ, số lãi phải trả trên thẻ tín dụng cũng sẽ tăng mạnh.

Những người muốn vay vốn học đại học cũng sẽ nhận thấy tác động tiêu cực của việc FED nâng lãi suất. Tuy nhiên, những ai đã vay rồi sẽ không bị ảnh hưởng do lãi suất trên các khoản này là cố định. Những doanh nghiệp phụ thuộc lớn vào vay nợ cũng sẽ chịu áp lực.

2. Tin tốt với người tiêu dùng, công dân có địa vị cao và người gửi tiết kiệm

Từ năm 2007, những người gửi tiền tiết kiệm không thể kiếm được nhiều từ các khoản tiền gửi tại ngân hàng. Tuy nhiên, nếu FED nâng lãi suất, các ngân hàng sẽ phải trả lãi cao hơn cho khách. Đây thực sự là tin tốt với những người nghỉ hưu, bởi họ có thể kiếm được một khoản đáng kể từ số tiền gửi trong tài khoản tiết kiệm. Lãi suất tăng cũng giúp người dân Mỹ dễ dàng mua hàng hóa nước ngoài hơn.

3. Tin xấu với các hãng xuất khẩu

Nhưng ngược lại, nâng lãi suất đồng nghĩa USD sẽ tăng giá mạnh, dẫn tới hàng hóa của Mỹ trở nên đắt đỏ với thị trường thế giới. Kết quả là, lĩnh vực thương mại của Mỹ có thể sẽ bị thiệt hại lớn.

4. Tin xấu với các thị trường mới nổi

Trong khi thị trường mới nổi còn đang chật vật với cơn hoảng loạn xuất phát từ Trung Quốc, FED nâng lãi suất có thể sẽ gây tổn hại thêm đến những nước này, do dòng vốn sẽ ào ạt quay về Mỹ. Trong đó, lĩnh vực thương mại, tiền tệ và thị trường việc làm có thể sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất.

Tuần trước, kinh tế trưởng Kaushik Basu tại Ngân hàng Thế giới (WB) từng cảnh báo việc FED nâng lãi suất có thể châm ngòi cho những hoảng loạn và biến động mạnh trên các thị trường mới nổi. Cơ quan này nên đợi đến khi kinh tế toàn cầu ổn định hơn.

Daniel Tenegauzer – Giám đốc chiến lược khối thị trường mới nổi và ngoại hối toàn cầu RBC Capital Markets giải thích một khi FED nâng lãi suất, USD sẽ tăng giá mạnh. Đây sẽ là động lực khuyến khích giới đầu tư toàn cầu đổ vốn mạnh hơn vào Mỹ thay vì các thị trường mới nổi. Nói cách khác, FED nâng lãi suất sẽ kích hoạt dòng vốn khổng lồ tháo chạy khỏi các thị trường mới nổi.

Nếu USD liên tục tăng giá trong thời gian dài, các khoản nợ USD của khối thị trường mới nổi có thể sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Trong đó, Brazil, Thổ Nhĩ Kỳ, Indonesia, Nga và Nam Phi có thể sẽ rơi vào thời kỳ kinh tế khó khăn trong nửa sau của năm 2015, do chi phí vay vốn tăng cao.

Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS) cũng từng cảnh báo hồi tháng 6/2015 rằng việc vay vốn ồ ạt trong vài năm gần đây sẽ khiến các thị trường mới nổi càng dễ bị tổn thương khi FED thắt chặt chính sách. USD càng tăng giá mạnh, họ càng khó xoay sở để trả nợ, và dần tăng trưởng chậm lại.

Financial Times trích lời của Giám đốc Bank of America Merrill Lynch – ông David Hauner cho biết, những nền kinh tế mới nổi, như Brazil, Nga và Nam Phi có thể sẽ chịu tác động mạnh nhất do cả 3 đều là nước xuất khẩu hàng hóa lớn trên thế giới. Thậm chí, các thị trường mới nổi sẽ bị mắt kẹt giữa đà tăng giá của USD và sự suy yếu của kinh tế Trung Quốc.

4. Tin xấu với lãi suất cho vay thế chấp

Lãi suất cơ bản của Mỹ gián tiếp tác động tới lãi suất cho vay thế chấp, bởi lãi suất cơ bản được áp dụng trong thời gian dài và được điều chỉnh tuỳ theo cung – cầu trên thị trường vay thế chấp.

Thị trường bất động sản của Mỹ hiện phụ thuộc rất lớn vào hoạt động cho vay thế chấp. Chính vì vậy, khi chi phí vay vốn tăng cao, người dân Mỹ càng khó xoay sở để mua được nhà. Một khi nhu cầu mua nhà giảm, những lĩnh vực có liên quan, như sản xuất đồ gia dụng, sàn nhà, ống nước,… cũng sẽ chịu thiệt hại.

Lãi suất cơ bản chỉ là một trong nhiều yếu tố của thị trường có thể điều tiết lãi suất cho vay thế chấp dài hạn, nhà phân tích Lawrence Yun cho biết trên Forbes. Một số yếu tố khác là lạm phát, dự trữ ngoại tệ toàn cầu và nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp.

Tuy nhiên theo thực tế, lãi suất cho vay thế chấp hiện vẫn biến động ngay cả khi lãi suất cơ bản của Mỹ đang ở mức thấp kỷ lục. Do đó, tác động của việc FED nâng lãi suất cơ bản lên lãi suất cho vay thế chấp dài hạn có thể sẽ rất nhỏ.

Một minh chứng điển hình cho kết luận này là thời điểm FED liên tục nâng lãi suất trong khoảng thời gian năm 2004 – 2006. Khi ấy, cơ quan này đã nâng lãi suất lên 5,24% (tháng 7/2006) từ 1% (tháng 1/2004). Trong 2 năm này, lãi suất cho vay thế chấp cố định kỳ hạn 30 năm (loại lãi suất được nhiều người tiêu dùng chọn lựa) dao động trong khoảng 6,34% – 6,8%. Điều này có nghĩa nếu FED tăng lãi suất cơ bản thêm hơn 4 điểm % thì lãi suất cho vay thế chấp sẽ chỉ tăng khoảng 0,5 điểm %.

Ngược lại, khi FED hạ lãi suất cơ bản xuống 0,16% hồi tháng 12/2008 từ mức 5,26% tháng 7/2007, lãi suất cho vay thế chấp cũng giảm xuống, dao động trong phạm vi 6,73% – 5,53%. Nói cách khác, nếu FED hạ lãi suất thêm 5%, lãi suất cho vay thế chấp sẽ chỉ giảm 1%.

5. Bất lợi cho thị trường chứng khoán

Nâng lãi suất chắc chắn sẽ làm tăng mức độ biến động trên các thị trường chứng khoán và có thể kéo giảm sức hấp dẫn của chứng khoán với giới đầu tư, CNN Money nhận xét. Tuy nhiên, phản ứng của thị trường chứng khoán với lãi suất thường khá đa dạng và phụ thuộc vào từng lĩnh vực.

Năm 2008, chuyên gia Kunaey Garg thực hiện một nghiên cứu về thị trường chứng khoán và kết luận giá cổ phiếu của những lĩnh vực có khối nợ lớn sẽ phản ứng mạnh mẽ hơn so với các lĩnh vực khác trước mỗi đợt FED thay đổi lãi suất.

Lần cuối cùng FED nâng lãi suất cơ bản là vào ngày 26/6/2006. Thị trường chứng khoán Mỹ đã phản ứng rất tích cực, với Dow Jones tăng 2%, theo USA Today. Tất nhiên vào thời điểm đó, thị trường chứng khoán Mỹ thấp hơn 4.900 điểm so với hiện tại.

So với năm 2006, bức tranh hiện tại của thị trường chứng khoán đã khác rất nhiều, do FED hạ lãi suất xuống cận 0% từ tháng 12/2008. Và từ tháng 6/2006 đến nay, Ngân hàng Trung ương Mỹ cũng chưa một lần nâng lãi suất.

Tuy nhiên, với rất nhiều đồn đoán xung quanh lãi suất cơ bản của Mỹ, thị trường chứng khoán lần này có thể sẽ phản ứng mạnh trong cả 2 trường hợp FED nâng lãi suất và không thay đổi chính sách. Phản ứng này được cho là chỉ diễn ra trong thời gian ngắn. Dù vậy, nếu hứng thú đầu tư của thị trường phụ thuộc nhiều vào cảm xúc hơn là yếu tố kỹ thuật, thị trường có thể sẽ phản ứng thái quá, dẫn tới biến động mạnh.

Nguồn VNExpress

Administrator September 15, 2015 No Comments

Gặp gỡ người phụ nữ quyền lực nhất thế giới

Janet Yellen, Chủ tịch Fed hiện tại, xứng đáng với danh hiệu người phụ nữ quyền lực nhất thế giới.

Có thể bạn, hay thậm chí phần đông người dân Mỹ đều không biết bà ấy là ai. Gần 70% dân số Mỹ chưa từng nghe đến cái tên Yellen, theo một khảo sát vào tháng 3 của NBC/WSJ.

Là người đứng đầu ngân hàng trung ương Mỹ, Cục Dự trữ Liên bang (Fed), bà Yellen có những ảnh hưởng rất lớn đến thị trường tài chính thế giới nói chung và nền kinh tế Mỹ nói riêng. Nhà đầu tư (NĐT) trên toàn thế giới nuốt từng lời của bà Yellen và việc họ hiểu những lời nói đó như thế nào có thể khiến cho hàng ngàn tỷ USD hoặc bay hơi hoặc tăng lên gấp bội lần chỉ trong phút chốc.

Về phía mình, bà Yellen chưa bao giờ mong muốn tạo ra những biến động cho thị trường tài chính. Vì vậy, khi phát biểu trước đại chúng về những chính sách sắp tới của Fed, bà luôn dùng một giọng điệu trung lập và hạn chế tối đa việc sử dụng những từ hay thậm chí là những cái lên xuống giọng rất nhẹ, vì từng điều nhỏ nhất ấy hoàn toàn có thể gây nên tâm lý hoang mang cho NĐT.

Yellen đã rèn giũa một phong thái, một cách sống rất điềm tĩnh từ khi còn là một học sinh trung học tại Brooklyn, New York. Cô cựu thủ khoa này gây ấn tượng mạnh với toàn thể giáo viên cũng như bạn bè đồng trang lứa bởi sự thông minh và khả năng làm việc dưới áp lực của mình. Không chỉ vậy, Yellen còn là một đầu bếp đại tài với khẩu vị nêm nếm rất phong phú đa dạng.

Tại thời điểm này, sự chú ý của toàn thế giới đều đang hướng đến bà Yellen. Quyết định sắp tới của bà cũng như của Fed sẽ là một bước đi lịch sử. Tôi, bạn và hàng triệu người dân Mỹ cũng như thị trường tài chính toàn cầu đều chịu ảnh hưởng trực tiếp từ quyết định này.

Đa phần mọi người đều đang kỳ vọng các thành viên của Fed sẽ bỏ phiếu đồng thuận nâng lãi suất tham chiếu vào thứ Năm tới hoặc nếu không thì trong tương lai gần sau gần một thập kỷ giữ nguyên ở mức 0%. Điều chỉnh tăng đồng nghĩa với Fed nhận định nên kinh tế Mỹ đang trên đà tăng trưởng ổn định. Tuy nhiên, vẫn tồn tại rủi ro rằng sự điều chỉnh này sẽ khiến các thị trường toàn cầu chao đảo.

Kể từ khi bà Yellen đảm nhiệm vị trí Chủ tịch Fed, phần lớn các chính sách tiền tệ trọng yếu đều không khác biệt mấy, hay nói cách khác chỉ là một sự tiếp nối những chính sách cũ từ thời ông Ben Bernanke vẫn còn đương nhiệm.

Nhưng việc Yellen xác định thời điểm phù hợp để tăng lãi suất và những đường lối giải quyết các vấn đề phát sinh sau đó của bà mới là điều giúp Yellen ghi tên mình vào lịch sử.
“Nếu lãi suất được nâng lên, chúng ta sẽ bước vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của Yellen. Tuy nhiên, quyết định này đối với Yellen là một con dao hai lưỡi, nó có thể kéo dài thời gian đương nhiệm hoặc đặt dấu chấm hết cho vị trí Chủ tịch Fed của bà”, nhận định của Gus Faucher, chuyên viên kinh tế cấp cao tại công ty dịch vụ tài chính nổi tiếng PNC.
Bạn của bà Yellen, người vừa là cựu nhân viên của Fed vừa là một nhà kinh tế học độc lập cho biết, Yellen là một người rất lạc quan, bình tĩnh trước áp lực và luôn luôn có nền tảng vững chắc cho những quyết định của mình, kể cả khi tất cả những gì người khác nhìn thấy chỉ là một màn sương mù dày đặc.

Đây không phải là lần đầu tiên Yellen đứng trước một quyết định khó khăn. Bà từng là nhân viên cao cấp của Fed trong những thời điểm kinh tế khủng hoảng và suy thoái.

Người phụ nữ điềm nhiên trước động đất

Ngày 17/10/1989, trận động đất Loma Prieta đã hủy hoại hoàn toàn San Francisco, khiến hàng chục người thiệt mạng và hàng ngàn người bị thương. Andrey Rose đã ở cạnh Yellen khi trận động đất lịch sự diễn ra. Hai người họ khi ấy đang là giảng viên kinh tế tại trường Đại học California, Berkeley.

Khi những bức tường xung quanh và cả sàn nhà dưới chân mình rung lắc, Rose đã nghĩ có lẽ Yellen là người cuối cùng anh nhìn thấy trước khi mạng sống của mình bị cơn động đất lấy đi. Trong khi Rose hoảng loạn cố gắng bám vào khung cửa, Yellen vẫn bình thản ngồi yên tại bàn làm việc.

“Cô ấy rất bình tĩnh, không hề khóc hay lộ chút lo lắng. Nét mặt cô ta khi ấy khiến tôi tin rằng nếu chẳng may có một cuộc khủng hoảng tài chính xảy ra trong thời kỳ Yellen còn đương nhiệm, mọi chuyện sẽ được giải quyết ổn thỏa bởi người phụ nữ bản lĩnh ấy”, trích lời Andrew Rose.

“Yellen, Rose và con trai ông ấy”

“Yellen, Rose và con trai ông ấy”

Một người sống minh bạch, một đầu bếp đại tài
Nhiều nhà phê bình cho rằng Fed không độc lập trong việc đưa ra quyết định và luôn luôn tồn tại những thỏa hiệp giữa Fed với giới siêu giàu Phố Wall. Nhưng với riêng Yellen, đồng nghiệp cũng như những nhà kinh tế học đều đồng ý rằng bà là một người phụ nữ Mỹ chính trực.

Không như đa số thành viên của Fed, bà Yellen chưa từng làm việc tại Phố Wall. Bà lớn lên trong tầng lớp trung lưu. Người đồng nghiệp Rose trong câu chuyện kể trên cũng tin rằng lý tưởng sống của Yellen không phải vì tiền.

Yellen có một niềm đam mê rất lớn với việc nấu ăn. Bạn bè bà khi được hỏi đều tấm tắc khen món sườn nướng tuyệt hảo và khẩu vị đậm đà của bà. Họ thậm chí còn cho rằng bà là người nấu ăn ngon nhất vùng.

James Wilcox là một đồng nghiệp cũng từng giảng dạy tại Berkeley với Yellen. Anh không hề ngạc nhiên khi Yellen trở thành Chủ tịch Fed.

“Tôi chỉ không ngờ là mình lại từng được ăn trưa với Chủ tịch Fed. Xưa và nay, cô ấy vẫn giữ nguyên một bản lĩnh rất đáng nể phục”, Wilcox trả lời phỏng vấn.

Nhiều người quen biết Yellen cũng xác nhận quan điểm trên.

Yellen, một học sinh có chí hướng

YELLEN, JANET 6939 Đại lộ Ridge Tổng biên tập Tạp chí Pilot, Arista, Boosters, Minutemen, Câu lạc bộ Triết học Các bài viết: “Người cha da trắng vĩ đại”, “Dải ruy băng đen”, “Hình vuông YO”, “Ăn trưa cùng Blankenship”,...”

YELLEN, JANET
6939 Đại lộ Ridge
Tổng biên tập Tạp chí Pilot, Arista, Boosters, Minutemen, Câu lạc bộ Triết học
Các bài viết: “Người cha da trắng vĩ đại”, “Dải ruy băng đen”, “Hình vuông YO”, “Ăn trưa cùng Blankenship”,…”

Glenn Khoury từng học chung với Yellen tại trường trung học Hamilton thuộc Brooklyn. Dù không thân nhưng Khoury và Yellen vẫn biết nhiều về nhau.
Thậm chí đã 52 năm kể từ khi họ tốt nghiệp, Khoury vẫn nhớ như in cô học trò cực giỏi tài chính Yellen. Ông chia sẻ: “Khi đó, tôi đã biết chắc rằng cô ấy sẽ làm được những điều lớn lao. Và đó chính là ngày hôm nay.”

Chỉ một lần duy nhất Yellen nói về bản thân mình kèm chút châm biến. Đó là khi còn là trưởng biên tập của tập san trường trung học, Yellen được giao nhiệm vụ phỏng vấn thủ khoa trường. Điều đó đồng nghĩa với việc Yellen sẽ tự phỏng vấn chính mình.

Trong bài báo đó, có đoạn Yellen nói về “cô thủ khoa” chính mình như sau: “Theo những gì tôi hiểu, bạn quả thực là một cô gái linh động, hấp dẫn và rất tài năng”. Bài báo đó đến tận bây giờ vẫn được lưu giữ tại thư viện cộng đồng Brooklyn.

Yellen đã từ chối đưa ra ý kiến khi được chính bản thân mình hỏi có bình luận gì không khi là một nhà báo tại trường trung học.
Cô nữ sinh trung học ấy, 52 năm sau dường như vẫn không thay đổi. Yellen, nay là Chủ tịch Fed, từ chối đưa ra bình luận về bài báo này.

Nguồn Vietstock

Administrator September 15, 2015 No Comments

Chỉ số kinh tế Mỹ khiến Fed tiến thoái lưỡng nan

Các nhà hoạch định chính sách Fed đang vấp phải bức tranh cực kỳ phức tạp với các điểm nóng về kinh tế Mỹ ở 2 chiều đối lập.

Với những người ủng hộ việc thắt chặt tiền tệ như Chủ tịch Fed St Louis James Bullard, kinh tế Mỹ đã sẵn sàng hơn bao giờ hết để Fed nâng lãi suất lần đầu tiên trong gần một thập kỷ qua. “Thị trường lao động tăng trưởng mạnh mẽ và hy vọng GDP cũng vậy”, ông Bullard cho biết trong cuộc phỏng vấn hôm 28/8 vừa qua.

Nhưng liệu quan điểm này có trở nên rõ ràng hơn trong phiên họp ngày 17/9 hay không – phiên họp được chờ đợi nhất kể từ khi bà Janet Yellen nắm giữ chức Chủ tịch Fed hồi tháng 2/2014.

Bà Yellen từng cho rằng năm nay là thời điểm “thích hợp” để nâng lãi suất, nếu không phải vào tháng 9 thì cũng là một tháng khác từ giờ đến cuối năm. Tuy nhiên, nhiều quan chức Fed đang phải phân tích một bức tranh rất phức tạp.

fed_economy_2_122128223

 

Tại Mỹ, rất nhiều chỉ số kinh tế như doanh số bán ôtô hay giá bất động sản, đang tăng vọt. Tỷ lệ thất nghiệp cũng xuống thấp kỷ lục và các công ty cũng đang tăng cường tuyển dụng.

fed_economy_3

Tuy nhiên, bóng ma lạm phát thấp vẫn đang lơ lửng trên đầu các nền kinh tế mới nổi, các thị trường tài chính vẫn biến động và lĩnh vực xuất khẩu Mỹ vẫn đang chật vật vì USD mạnh lên. Một khảo sát của Fed cũng cho thấy lạm phát tại Mỹ hầu như không nhích lên, trong khi lương nhân công vẫn chưa tăng.

Peter Bowe, Giám đốc một nhà máy 130 tuổi Ellicott Dredges tại Maryland, cho biết, việc Fed tăng lãi suất sẽ là viên thuốc khó nuốt với ông. Chi phí đi vay của các khách hàng công ty ông sẽ tăng. USD mạnh chưa bao giờ được những hãng xuất khẩu như ông chào đón.

fed_economy_4

Dù vậy, kinh tế Mỹ tăng trưởng ấn tượng cũng khiến doanh thu công ty ông đi lên và hưởng lợi từ việc cung cấp máy hút bùn trong dự án mở rộng kênh đào Panama. Lần đầu tiên trong một thập kỷ, doanh thu nội địa tăng vượt các thị trường mới nổi. Ngành xây dựng đang hồi sinh tại Mỹ. Chi tiêu chính phủ cho dự án giao thông và thủy lợi cao nhất 7 năm qua.

Rick Rieder, phụ trách đầu tư tại BlackRock, cho rằng các chỉ số của Mỹ đều đang phát tín hiệu Fed cần hành động. Ông cho rằng mối lo hiện tại là thị trường tài chính bị bóp méo do lãi suất quá thấp, khiến nợ doanh nghiệp tăng, hơn là lạm phát không đạt như kỳ vọng.

fed_economy_5

“Trong khi cả thế giới đang vật lộn với tốc độ tăng trưởng thì Mỹ đang thể hiện rất tốt. Fed đã có thể nâng lãi suất từ tháng 3 chứ đừng nói là tháng 9 này”, ông Rieder nói.

Một bằng chứng chắc chắn nhất thể hiện sự phục hồi của Mỹ là chỉ số tiêu dùng. Các số liệu trong tuần trước cho thấy số ôtô bán ra tăng lên 17,7 triệu xe – cao nhất trong thập kỷ qua.

Jack Fitzgerald, nhà sáng lập Fitzgerald Auto Mall, với thâm niên 50 năm trong nghề, cho biết, doanh số bán hàng đã tăng “đáng kể”.

Hoạt động tài chính dễ dàng hơn nhờ các ngân hàng, dân số mở rộng, tầng lớp trẻ thay thế những tư duy cũ kỹ thúc đẩy nhu cầu phát triển và một nền kinh tế năng động, mạnh mẽ hơn. Đó là những gì mà vị tiền bối của Fitzgerald Auto Mall đã nhìn thấy ở sự chuyển mình của Mỹ trong 4 năm nay.

Ông Fitzgerald cũng cho biết rằng, Fed sẽ cần tăng lãi suất thêm hơn 0,33% để “răn đe” những người mua xe hơi. Con số này được tính toán theo mô hình kinh tế được xây dựng lên bởi các nhà kinh tế trường đại học Oxford. Theo đó, cứ mỗi 1% lãi suất tăng sẽ làm giảm 0,1% GDP năm 2016.

fed_economy_6

Tuy nhiên, vấn đề là thị trường sẽ phản ứng ra sao với quyết định của Fed. Rất khó để dự đoán thị trường sẽ phản ứng như thế nào nhưng chắc chắn nó sẽ rất dữ dội trong lần tăng đầu tiên. Một khi các nhà xuất nhập khẩu bị lần tăng lãi suất này làm cho choáng váng thì thị trường thế giới và nền kinh tế Mỹ sẽ bị phá hủy nghiêm trọng.

Tuần trước Ngân hàng trung ương châu Âu (ECB) cảnh báo về khủng hoảng tài chính đi kèm với một số rủi ro suy thoái, giới thương nhân không đặt nhiều hy vọng vào động thái thay đổi trong tháng 9. Tốc độ tăng trưởng toàn cầu có nguy cơ giảm và giá hàng hóa đồng loạt giảm, điều đó có nghĩa là nguy cơ nền kinh tế bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài nơi mà tốc độ lạm phát liên tục không tuân theo dự báo.

Nỗi lo sợ về những hậu quả chưa thể đoán trước chính là lý do vì sao Fed đang chịu sức ép từ các chính trị gia rằng nên hoãn tăng lãi suất, đặc biệt trong bối cảnh lương nhân công tại Mỹ chưa tăng.

Dawn O’Neal, trợ giảng với thu nhập 8,5 USD/giờ, đã tham gia một cuộc biểu tình tháng trước, kêu gọi giữ nguyên lãi suất gần 0% do lương hàng triệu người dân Mỹ vẫn chưa tăng.

fed_economy_7

“Cuộc sống của chúng tôi đang rất khó khăn, chẳng thể nào duy trì nổi thu nhập cho đến cuối tháng. Nếu Fed nâng lãi suất, tương lai của chúng tôi sẽ thế nào?”, cô nói.

Ngược lại, Fed tỏ ra lạc quan với mô hình kinh tế của mình. Theo đó, tỷ lệ có việc làm của Mỹ sẽ đạt tối đa. Tiền lương tăng cùng với lãi suất chắc chắn tăng theo. Để cân bằng những yếu tố xung khắc là điều không tưởng.

Phó chủ tịch Fed Stanley Fischer cũng kêu gọi hành động tại các cuộc họp trước đây. Ông cho rằng nếu giới chức đợi đến khi có quá nhiều yếu tố hỗ trợ tăng lãi suất, tình hình đã trở nên quá muộn rồi.

Nhật Trường

Nguồn FT/Nhipcaudautu