Administrator Tháng Chín 15, 2015 Không có phản hồi

Gặp gỡ người phụ nữ quyền lực nhất thế giới

Janet Yellen, Chủ tịch Fed hiện tại, xứng đáng với danh hiệu người phụ nữ quyền lực nhất thế giới.

Có thể bạn, hay thậm chí phần đông người dân Mỹ đều không biết bà ấy là ai. Gần 70% dân số Mỹ chưa từng nghe đến cái tên Yellen, theo một khảo sát vào tháng 3 của NBC/WSJ.

Là người đứng đầu ngân hàng trung ương Mỹ, Cục Dự trữ Liên bang (Fed), bà Yellen có những ảnh hưởng rất lớn đến thị trường tài chính thế giới nói chung và nền kinh tế Mỹ nói riêng. Nhà đầu tư (NĐT) trên toàn thế giới nuốt từng lời của bà Yellen và việc họ hiểu những lời nói đó như thế nào có thể khiến cho hàng ngàn tỷ USD hoặc bay hơi hoặc tăng lên gấp bội lần chỉ trong phút chốc.

Về phía mình, bà Yellen chưa bao giờ mong muốn tạo ra những biến động cho thị trường tài chính. Vì vậy, khi phát biểu trước đại chúng về những chính sách sắp tới của Fed, bà luôn dùng một giọng điệu trung lập và hạn chế tối đa việc sử dụng những từ hay thậm chí là những cái lên xuống giọng rất nhẹ, vì từng điều nhỏ nhất ấy hoàn toàn có thể gây nên tâm lý hoang mang cho NĐT.

Yellen đã rèn giũa một phong thái, một cách sống rất điềm tĩnh từ khi còn là một học sinh trung học tại Brooklyn, New York. Cô cựu thủ khoa này gây ấn tượng mạnh với toàn thể giáo viên cũng như bạn bè đồng trang lứa bởi sự thông minh và khả năng làm việc dưới áp lực của mình. Không chỉ vậy, Yellen còn là một đầu bếp đại tài với khẩu vị nêm nếm rất phong phú đa dạng.

Tại thời điểm này, sự chú ý của toàn thế giới đều đang hướng đến bà Yellen. Quyết định sắp tới của bà cũng như của Fed sẽ là một bước đi lịch sử. Tôi, bạn và hàng triệu người dân Mỹ cũng như thị trường tài chính toàn cầu đều chịu ảnh hưởng trực tiếp từ quyết định này.

Đa phần mọi người đều đang kỳ vọng các thành viên của Fed sẽ bỏ phiếu đồng thuận nâng lãi suất tham chiếu vào thứ Năm tới hoặc nếu không thì trong tương lai gần sau gần một thập kỷ giữ nguyên ở mức 0%. Điều chỉnh tăng đồng nghĩa với Fed nhận định nên kinh tế Mỹ đang trên đà tăng trưởng ổn định. Tuy nhiên, vẫn tồn tại rủi ro rằng sự điều chỉnh này sẽ khiến các thị trường toàn cầu chao đảo.

Kể từ khi bà Yellen đảm nhiệm vị trí Chủ tịch Fed, phần lớn các chính sách tiền tệ trọng yếu đều không khác biệt mấy, hay nói cách khác chỉ là một sự tiếp nối những chính sách cũ từ thời ông Ben Bernanke vẫn còn đương nhiệm.

Nhưng việc Yellen xác định thời điểm phù hợp để tăng lãi suất và những đường lối giải quyết các vấn đề phát sinh sau đó của bà mới là điều giúp Yellen ghi tên mình vào lịch sử.
“Nếu lãi suất được nâng lên, chúng ta sẽ bước vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của Yellen. Tuy nhiên, quyết định này đối với Yellen là một con dao hai lưỡi, nó có thể kéo dài thời gian đương nhiệm hoặc đặt dấu chấm hết cho vị trí Chủ tịch Fed của bà”, nhận định của Gus Faucher, chuyên viên kinh tế cấp cao tại công ty dịch vụ tài chính nổi tiếng PNC.
Bạn của bà Yellen, người vừa là cựu nhân viên của Fed vừa là một nhà kinh tế học độc lập cho biết, Yellen là một người rất lạc quan, bình tĩnh trước áp lực và luôn luôn có nền tảng vững chắc cho những quyết định của mình, kể cả khi tất cả những gì người khác nhìn thấy chỉ là một màn sương mù dày đặc.

Đây không phải là lần đầu tiên Yellen đứng trước một quyết định khó khăn. Bà từng là nhân viên cao cấp của Fed trong những thời điểm kinh tế khủng hoảng và suy thoái.

Người phụ nữ điềm nhiên trước động đất

Ngày 17/10/1989, trận động đất Loma Prieta đã hủy hoại hoàn toàn San Francisco, khiến hàng chục người thiệt mạng và hàng ngàn người bị thương. Andrey Rose đã ở cạnh Yellen khi trận động đất lịch sự diễn ra. Hai người họ khi ấy đang là giảng viên kinh tế tại trường Đại học California, Berkeley.

Khi những bức tường xung quanh và cả sàn nhà dưới chân mình rung lắc, Rose đã nghĩ có lẽ Yellen là người cuối cùng anh nhìn thấy trước khi mạng sống của mình bị cơn động đất lấy đi. Trong khi Rose hoảng loạn cố gắng bám vào khung cửa, Yellen vẫn bình thản ngồi yên tại bàn làm việc.

“Cô ấy rất bình tĩnh, không hề khóc hay lộ chút lo lắng. Nét mặt cô ta khi ấy khiến tôi tin rằng nếu chẳng may có một cuộc khủng hoảng tài chính xảy ra trong thời kỳ Yellen còn đương nhiệm, mọi chuyện sẽ được giải quyết ổn thỏa bởi người phụ nữ bản lĩnh ấy”, trích lời Andrew Rose.

“Yellen, Rose và con trai ông ấy”

“Yellen, Rose và con trai ông ấy”

Một người sống minh bạch, một đầu bếp đại tài
Nhiều nhà phê bình cho rằng Fed không độc lập trong việc đưa ra quyết định và luôn luôn tồn tại những thỏa hiệp giữa Fed với giới siêu giàu Phố Wall. Nhưng với riêng Yellen, đồng nghiệp cũng như những nhà kinh tế học đều đồng ý rằng bà là một người phụ nữ Mỹ chính trực.

Không như đa số thành viên của Fed, bà Yellen chưa từng làm việc tại Phố Wall. Bà lớn lên trong tầng lớp trung lưu. Người đồng nghiệp Rose trong câu chuyện kể trên cũng tin rằng lý tưởng sống của Yellen không phải vì tiền.

Yellen có một niềm đam mê rất lớn với việc nấu ăn. Bạn bè bà khi được hỏi đều tấm tắc khen món sườn nướng tuyệt hảo và khẩu vị đậm đà của bà. Họ thậm chí còn cho rằng bà là người nấu ăn ngon nhất vùng.

James Wilcox là một đồng nghiệp cũng từng giảng dạy tại Berkeley với Yellen. Anh không hề ngạc nhiên khi Yellen trở thành Chủ tịch Fed.

“Tôi chỉ không ngờ là mình lại từng được ăn trưa với Chủ tịch Fed. Xưa và nay, cô ấy vẫn giữ nguyên một bản lĩnh rất đáng nể phục”, Wilcox trả lời phỏng vấn.

Nhiều người quen biết Yellen cũng xác nhận quan điểm trên.

Yellen, một học sinh có chí hướng

YELLEN, JANET 6939 Đại lộ Ridge Tổng biên tập Tạp chí Pilot, Arista, Boosters, Minutemen, Câu lạc bộ Triết học Các bài viết: “Người cha da trắng vĩ đại”, “Dải ruy băng đen”, “Hình vuông YO”, “Ăn trưa cùng Blankenship”,...”

YELLEN, JANET
6939 Đại lộ Ridge
Tổng biên tập Tạp chí Pilot, Arista, Boosters, Minutemen, Câu lạc bộ Triết học
Các bài viết: “Người cha da trắng vĩ đại”, “Dải ruy băng đen”, “Hình vuông YO”, “Ăn trưa cùng Blankenship”,…”

Glenn Khoury từng học chung với Yellen tại trường trung học Hamilton thuộc Brooklyn. Dù không thân nhưng Khoury và Yellen vẫn biết nhiều về nhau.
Thậm chí đã 52 năm kể từ khi họ tốt nghiệp, Khoury vẫn nhớ như in cô học trò cực giỏi tài chính Yellen. Ông chia sẻ: “Khi đó, tôi đã biết chắc rằng cô ấy sẽ làm được những điều lớn lao. Và đó chính là ngày hôm nay.”

Chỉ một lần duy nhất Yellen nói về bản thân mình kèm chút châm biến. Đó là khi còn là trưởng biên tập của tập san trường trung học, Yellen được giao nhiệm vụ phỏng vấn thủ khoa trường. Điều đó đồng nghĩa với việc Yellen sẽ tự phỏng vấn chính mình.

Trong bài báo đó, có đoạn Yellen nói về “cô thủ khoa” chính mình như sau: “Theo những gì tôi hiểu, bạn quả thực là một cô gái linh động, hấp dẫn và rất tài năng”. Bài báo đó đến tận bây giờ vẫn được lưu giữ tại thư viện cộng đồng Brooklyn.

Yellen đã từ chối đưa ra ý kiến khi được chính bản thân mình hỏi có bình luận gì không khi là một nhà báo tại trường trung học.
Cô nữ sinh trung học ấy, 52 năm sau dường như vẫn không thay đổi. Yellen, nay là Chủ tịch Fed, từ chối đưa ra bình luận về bài báo này.

Nguồn Vietstock

Administrator Tháng Chín 15, 2015 Không có phản hồi

USD tăng mạnh nhất 30 năm – Tốt hơn hay xấu hơn

USD đang tăng mạnh nhất kể từ năm 1984 và khác với trước kia, giờ đây, dường như không ai có thể ngăn được đà tăng này.

30 năm trước, cũng vào tháng 9, nước Mỹ khi đó đủ mạnh để thoát ra khỏi tình trạng mất cân bằng thương mại bằng Hiệp ước Plaza. Theo hiệp ước này, Mỹ đã thuyết phục Nhật Bản, Đức, Pháp và Anh cùng hành động để làm suy yếu USD.

Giờ đây, việc Fed sẵn sàng tăng lãi suất cùng với xu hướng nới lỏng tiền tệ của các ngân hàng trung ương khác trên thế giới đã khiến USD mạnh lên, đe dọa triển vọng lạm phát cũng như lợi nhuận của doanh nghiệp.

“Fed đã sẵn sàng tăng lãi suất nhưng vẫn cực kỳ thận trọng và Fed cũng nên tính tới tác động của USD mạnh đối với các nhà xuất khẩu Mỹ”, ông Makoto Utsumi, cựu công sứ tại Đại sức quán Nhật Bản ở Washington vào thời điểm các bên ký kết Hiệp định Plaza và hiện là Chủ tịch Ban cố vấn toàn cầu cho Công ty tài chính Tokai Tokyo Financial Holdings, nhận định.

USD đã tăng 20% so với yên trong 2 năm qua và tăng 17% so với euro do triển vọng Fed nâng lãi suất trái ngược với xu hướng nới lỏng tiền tệ tại Nhật Bản và châu Âu.

Chỉ số Đôla của Fed, đo sức mạnh của USD với 26 đồng tiền của các đối tác thương mại với Mỹ, tăng hơn 18% kể từ cuối năm 2013, lên mức kỷ lục vào tháng 2/2002. Chỉ số này đang hướng đến mức tăng lũy kế 2 năm mạnh nhất kể từ 1984 – thời điểm tăng tới 32%.

Đồng thời, IMF trong báo cáo ra hồi tháng 7 đã cho rằng mất cân bằng toàn cầu đang là trở ngại cho sự tăng trưởng kinh tế và USD đang được giao dịch “cao hơn” so với những yếu tố cơ bản của nó.

Tuy nhiên, cuộc họp G20 diễn ra tại Thổ Nhĩ Kỳ trong tháng 9 này kết thúc mà không đưa ra được bất kỳ chính sách cụ thể nào về cách thức đối phó với tình trạng kinh tế Trung Quốc giảm tốc, kể cả sau khi Trung Quốc bất ngờ phá giá nhân dân tệ, khiến thị trường toàn cầu biến động.

Điều này trái ngược với những gì diễn ra tháng 9/1985 khi các bộ trưởng tài chính thế giới nhóm họp tại Khách sạn Plaza ở New York. Ngày 22/9, các bộ trưởng tài chính đã ký thỏa thuận cùng nhau hạ giá USD và kết quả là chỉ sau 2 năm, USD đã giảm 50% so với yên và 30% so với đồng mác Tây Đức thời đó.

Nguồn Kinh Tế Today

Administrator Tháng Chín 15, 2015 Không có phản hồi

Chỉ số kinh tế Mỹ khiến Fed tiến thoái lưỡng nan

Các nhà hoạch định chính sách Fed đang vấp phải bức tranh cực kỳ phức tạp với các điểm nóng về kinh tế Mỹ ở 2 chiều đối lập.

Với những người ủng hộ việc thắt chặt tiền tệ như Chủ tịch Fed St Louis James Bullard, kinh tế Mỹ đã sẵn sàng hơn bao giờ hết để Fed nâng lãi suất lần đầu tiên trong gần một thập kỷ qua. “Thị trường lao động tăng trưởng mạnh mẽ và hy vọng GDP cũng vậy”, ông Bullard cho biết trong cuộc phỏng vấn hôm 28/8 vừa qua.

Nhưng liệu quan điểm này có trở nên rõ ràng hơn trong phiên họp ngày 17/9 hay không – phiên họp được chờ đợi nhất kể từ khi bà Janet Yellen nắm giữ chức Chủ tịch Fed hồi tháng 2/2014.

Bà Yellen từng cho rằng năm nay là thời điểm “thích hợp” để nâng lãi suất, nếu không phải vào tháng 9 thì cũng là một tháng khác từ giờ đến cuối năm. Tuy nhiên, nhiều quan chức Fed đang phải phân tích một bức tranh rất phức tạp.

fed_economy_2_122128223

 

Tại Mỹ, rất nhiều chỉ số kinh tế như doanh số bán ôtô hay giá bất động sản, đang tăng vọt. Tỷ lệ thất nghiệp cũng xuống thấp kỷ lục và các công ty cũng đang tăng cường tuyển dụng.

fed_economy_3

Tuy nhiên, bóng ma lạm phát thấp vẫn đang lơ lửng trên đầu các nền kinh tế mới nổi, các thị trường tài chính vẫn biến động và lĩnh vực xuất khẩu Mỹ vẫn đang chật vật vì USD mạnh lên. Một khảo sát của Fed cũng cho thấy lạm phát tại Mỹ hầu như không nhích lên, trong khi lương nhân công vẫn chưa tăng.

Peter Bowe, Giám đốc một nhà máy 130 tuổi Ellicott Dredges tại Maryland, cho biết, việc Fed tăng lãi suất sẽ là viên thuốc khó nuốt với ông. Chi phí đi vay của các khách hàng công ty ông sẽ tăng. USD mạnh chưa bao giờ được những hãng xuất khẩu như ông chào đón.

fed_economy_4

Dù vậy, kinh tế Mỹ tăng trưởng ấn tượng cũng khiến doanh thu công ty ông đi lên và hưởng lợi từ việc cung cấp máy hút bùn trong dự án mở rộng kênh đào Panama. Lần đầu tiên trong một thập kỷ, doanh thu nội địa tăng vượt các thị trường mới nổi. Ngành xây dựng đang hồi sinh tại Mỹ. Chi tiêu chính phủ cho dự án giao thông và thủy lợi cao nhất 7 năm qua.

Rick Rieder, phụ trách đầu tư tại BlackRock, cho rằng các chỉ số của Mỹ đều đang phát tín hiệu Fed cần hành động. Ông cho rằng mối lo hiện tại là thị trường tài chính bị bóp méo do lãi suất quá thấp, khiến nợ doanh nghiệp tăng, hơn là lạm phát không đạt như kỳ vọng.

fed_economy_5

“Trong khi cả thế giới đang vật lộn với tốc độ tăng trưởng thì Mỹ đang thể hiện rất tốt. Fed đã có thể nâng lãi suất từ tháng 3 chứ đừng nói là tháng 9 này”, ông Rieder nói.

Một bằng chứng chắc chắn nhất thể hiện sự phục hồi của Mỹ là chỉ số tiêu dùng. Các số liệu trong tuần trước cho thấy số ôtô bán ra tăng lên 17,7 triệu xe – cao nhất trong thập kỷ qua.

Jack Fitzgerald, nhà sáng lập Fitzgerald Auto Mall, với thâm niên 50 năm trong nghề, cho biết, doanh số bán hàng đã tăng “đáng kể”.

Hoạt động tài chính dễ dàng hơn nhờ các ngân hàng, dân số mở rộng, tầng lớp trẻ thay thế những tư duy cũ kỹ thúc đẩy nhu cầu phát triển và một nền kinh tế năng động, mạnh mẽ hơn. Đó là những gì mà vị tiền bối của Fitzgerald Auto Mall đã nhìn thấy ở sự chuyển mình của Mỹ trong 4 năm nay.

Ông Fitzgerald cũng cho biết rằng, Fed sẽ cần tăng lãi suất thêm hơn 0,33% để “răn đe” những người mua xe hơi. Con số này được tính toán theo mô hình kinh tế được xây dựng lên bởi các nhà kinh tế trường đại học Oxford. Theo đó, cứ mỗi 1% lãi suất tăng sẽ làm giảm 0,1% GDP năm 2016.

fed_economy_6

Tuy nhiên, vấn đề là thị trường sẽ phản ứng ra sao với quyết định của Fed. Rất khó để dự đoán thị trường sẽ phản ứng như thế nào nhưng chắc chắn nó sẽ rất dữ dội trong lần tăng đầu tiên. Một khi các nhà xuất nhập khẩu bị lần tăng lãi suất này làm cho choáng váng thì thị trường thế giới và nền kinh tế Mỹ sẽ bị phá hủy nghiêm trọng.

Tuần trước Ngân hàng trung ương châu Âu (ECB) cảnh báo về khủng hoảng tài chính đi kèm với một số rủi ro suy thoái, giới thương nhân không đặt nhiều hy vọng vào động thái thay đổi trong tháng 9. Tốc độ tăng trưởng toàn cầu có nguy cơ giảm và giá hàng hóa đồng loạt giảm, điều đó có nghĩa là nguy cơ nền kinh tế bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài nơi mà tốc độ lạm phát liên tục không tuân theo dự báo.

Nỗi lo sợ về những hậu quả chưa thể đoán trước chính là lý do vì sao Fed đang chịu sức ép từ các chính trị gia rằng nên hoãn tăng lãi suất, đặc biệt trong bối cảnh lương nhân công tại Mỹ chưa tăng.

Dawn O’Neal, trợ giảng với thu nhập 8,5 USD/giờ, đã tham gia một cuộc biểu tình tháng trước, kêu gọi giữ nguyên lãi suất gần 0% do lương hàng triệu người dân Mỹ vẫn chưa tăng.

fed_economy_7

“Cuộc sống của chúng tôi đang rất khó khăn, chẳng thể nào duy trì nổi thu nhập cho đến cuối tháng. Nếu Fed nâng lãi suất, tương lai của chúng tôi sẽ thế nào?”, cô nói.

Ngược lại, Fed tỏ ra lạc quan với mô hình kinh tế của mình. Theo đó, tỷ lệ có việc làm của Mỹ sẽ đạt tối đa. Tiền lương tăng cùng với lãi suất chắc chắn tăng theo. Để cân bằng những yếu tố xung khắc là điều không tưởng.

Phó chủ tịch Fed Stanley Fischer cũng kêu gọi hành động tại các cuộc họp trước đây. Ông cho rằng nếu giới chức đợi đến khi có quá nhiều yếu tố hỗ trợ tăng lãi suất, tình hình đã trở nên quá muộn rồi.

Nhật Trường

Nguồn FT/Nhipcaudautu

Administrator Tháng Chín 14, 2015 Không có phản hồi

Lý do FED cần nâng lãi suất ngay tuần này

Khi kinh tế Mỹ tăng trưởng quanh 2% và tỷ lệ thất nghiệp gần như đã đạt yêu cầu, Cục Dự trữ liên bang chẳng còn mấy lý do để giữ lãi suất ở mức thấp kỷ lục.

Nếu lắng nghe các chuyên gia kinh tế tại Phố Wall, người ta hẳn sẽ nghĩ FED nâng lãi suất ngay có thể gây ra thảm kịch, đẩy kinh tế toàn cầu vào suy thoái và thị trường tài chính sụp đổ. Nhưng trên thực tế, nếu FED hành động ngay tuần này, lãi suất có lẽ chỉ lên từ gần 0% lên 0,125% hoặc 0,25% mà thôi. Mức tăng này không đáng kể.

Đợt tăng đầu tiên sau nhiều năm có tác động về tâm lý nhiều hơn là tài chính hay kinh tế. FED đã giữ lãi suất thấp quá lâu, khiến người ta sợ hãi sự thay đổi.

Chủ tịch FED - bà Janet Yellen sẽ công bố quyết định về lãi suất trong tuần này. Ảnh: Forbes

Chủ tịch FED – bà Janet Yellen sẽ công bố quyết định về lãi suất trong tuần này. Ảnh: Forbes

Thị trường chứng khoán đã biến động lớn nhiều tuần nay trước mỗi tín hiệu lãi suất tăng. 10 tuần gần đây, chứng khoán cứ tăng một tuần lại giảm một tuần, một phần cũng vì FED.

Đây không phải điều tốt. Vì Cục Dự trữ liên bang đã ra tín hiệu tăng lãi suất năm 2015 từ gần một năm nay rồi. Vấn đề chỉ là tìm thời điểm thích hợp mà thôi. Và cũng như mọi quyết định lớn khác, đây luôn là việc đau đầu.

Đã đến lúc Mỹ phải gỡ bỏ miếng urgo (miếng băng vết thương) đã tồn tại nhiều năm qua. Nếu FED còn trì hoãn nữa, thị trường sẽ chỉ thêm biến động mà thôi. Nhà đầu tư sẽ lại băn khoăn “Thế thì bao giờ mới tăng đây, tháng 10, tháng 12 hay năm sau?”.

Giới phân tích đánh giá khả năng tăng lãi tuần này vẫn là 50%. Chắc chắn thị trường sẽ có phản ứng sau thông báo tăng lãi suất (thường là bán). Nhưng sau đó, họ sẽ dần bình tâm lại và nhận ra thế giới sẽ chẳng bị hủy diệt nếu lãi suất tăng 0,25% đâu.

Trọng tâm bây giờ không phải là đợt tăng lãi suất đầu tiên, mà là điều gì sẽ xảy ra sau đó. Liệu FED sẽ tiếp tục tăng lãi trong vài phiên họp tới, hay sẽ giãn ra và chỉ tăng hai hoặc ba lần năm sau thôi?

Tốc độ tăng mới là điều mọi người nên quan tâm. Nhưng họ sẽ chẳng nghĩ được thế đâu, cho đến khi FED tăng lãi suất lần đầu.

Có rất nhiều ý kiến cho rằng sẽ thật ngớ ngẩn nếu FED tăng lãi suất ngay. Trong đó có Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), cứu Bộ trưởng Tài chính Mỹ – Larry Summers và cả tờ New York Times nữa.

Họ nói đúng ở điểm lạm phát Mỹ vẫn dưới mục tiêu 2%. Họ cũng đúng nốt khi nói kinh tế Trung Quốc giảm tốc (hay Hy Lạp và Canada cũng vậy) là điều đáng lo ngại, còn chứng khoán Mỹ gần đây đang đi xuống.

Nhưng vấn đề là sẽ chẳng bao giờ có thời điểm hoàn hảo để nâng lãi đâu. CNN cho rằng họ chỉ cần tìm thời điểm đủ ổn để hành động mà thôi. Ngay lúc này, kinh tế Mỹ và các thị trường đã sẵn sàng, hoặc ít nhất thì có vẻ đã sẵn sàng, để đón chờ việc này.

Năm ngoái, Mỹ đã tạo thêm số việc làm nhiều nhất từ năm 1999. Và năm nay, tốc độ này cũng đạt trung bình trên 200.000 việc làm mỗi tháng.

Bên cạnh đó, thị trường chứng khoán cũng vừa trải qua thời kỳ tăng điểm dài kỷ lục, khi tăng hơn gấp 3 từ đáy năm 2009. Nhà đầu tư phải cảm ơn FED vì điều đó. Nhưng giờ, nếu còn duy trì lãi suất thấp thêm nữa, họ sẽ lại tạo ra bong bóng giá cổ phiếu.

“Càng duy trì lãi suất cao, thị trường tài chính càng trở nên dư thừa. Khi đó, rủi ro biến động tài chính và suy thoái toàn cầu sẽ càng lớn”, Albert Edwards – chiến lược gia tại Societe Generale cho biết.

Tăng lãi tháng 9 sẽ mang theo 3 thông điệp. Một là kinh tế Mỹ đang tốt lên và lãi suất gần 0% là không cần thiết nữa. Hai, FED sẽ không bị ảnh hưởng bởi các biến động trên thị trường chứng khoán. Và cuối cùng, họ đã thực hiện xong bước đầu tiên, hãy hít thở bình thường và bắt đầu thảo luận chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo.

Nguồn VNExpress

Administrator Tháng Chín 14, 2015 Không có phản hồi

Giá dầu có thể xuống 20 USD một thùng

Goldman Sachs cho rằng dư cung toàn cầu nằm ngoài dự đoán của hãng và nếu các nước không giảm sản xuất đủ nhanh, giá sẽ phải xuống 20 USD mới giải quyết được tình trạng này.

Trong báo cáo hôm nay, Goldman cũng giảm dự báo giá dầu Brent và WTI từ nay đến năm 2016. Do dự báo tình trạng dư cung kéo dài khi Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) tăng sản xuất, nguồn cung ngoài OPEC tiếp tục cao trong khi nhu cầu lại giảm sút.

“Thị trường dầu thậm chí còn dư cung hơn chúng tôi tưởng tượng. Chúng tôi cho rằng việc này còn kéo dài trong năm 2016 và sẽ tiếp tục coi dầu đá phiến Mỹ là yếu tố mang tính điều chỉnh nguồn cung trong ngắn hạn”, Damien Courvalin – nhà phân tích tại Goldman nhận định.

Giá dầu WTI năm 2016 được dự báo còn 45 USD một thùng, từ 57 USD hồi tháng 5. Dầu Brent cũng sẽ có giá 49,5 USD một thùng, từ 62 USD trước đó.

Dầu WTI đã mất 14% trong năm nay. Dầu Brent tuần này cũng đã giảm 1,7%. Từ đỉnh tháng 6, dầu WTI đã mất hơn 25% do tín hiệu dư cung kéo dài. Các thành viên chủ chốt trong OPEC đang duy trì sản lượng, trong khi Iran có thể tăng xuất khẩu một khi các lệnh cấm vận quốc tế được gỡ bỏ. Dự trữ dầu thô tại Mỹ hiện vẫn cao hơn 100 triệu thùng so với trung bình 5 năm.

“Chúng tôi tin rằng thị trường muốn các nước ngoài OPEC chuyển từ tăng nhẹ sản xuất sang giảm mạnh năm tới. Nhưng khả năng sự điều chỉnh này xảy ra, hay về địa điểm và quy mô, đang ngày càng mờ mịt”, Goldman cho biết.

Tuần trước, Mỹ bơm ra thị trường 9,14 triệu thùng một ngày, cao hơn gần 3 triệu thùng so với trung bình 5 năm, theo số liệu của Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA). EIA cũng giảm dự báo sản lượng dầu mỏ Mỹ tuần này xuống 9,22 triệu thùng một ngày, nhưng giữ nguyên dự báo sản xuất năm nay cao nhất từ 1972.

OPEC hiện đóng góp 40% sản lượng dầu thô toàn cầu. Cơ quan này đã sản xuất trên chỉ tiêu 30 triệu thùng mỗi ngày suốt 15 tháng qua. Bộ trưởng Dầu mỏ Iran – Bijan Namdar Zanganeh cũng tuyên bố nâng sản lượng thêm 1 triệu thùng mỗi ngày để tăng thị phần, một khi các lệnh trừng phạt được gỡ bỏ.

Nguồn VNExpress

Administrator Tháng Chín 14, 2015 Không có phản hồi

Những điều nên biết khi Fed tăng lãi suất

Kể cả trước khi NHTW quyền lực nhất thế giới hành động, những ảnh hưởng của động thái này đã và đang lan rộng ra toàn bộ nền kinh tế toàn cầu.
Lần đầu tiên trong 1 thập kỷ, Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed) đang xem xét có nên tăng lãi suất một chút từ mức thấp kỷ lục hiện nay hay không. Hãy cùng đi tìm câu trả lời cho những câu hỏi phổ biến nhất về vấn đề này.

Tại sao Fed xem xét nâng lãi suất ở thời điểm hiện tại?

Nước Mỹ đã chứng kiến khu vực tư nhân có tốc độ tăng trưởng việc làm tốt nhất từ trước đến nay, và tỷ lệ thất nghiệp cũng đã giảm xuống còn một nửa so với thời kỳ đỉnh điểm. Fed nghĩ rằng thị trường lao động nóng lên sẽ gây nên lạm phát và đẩy tăng tiền lương. Với nhiệm vụ giữ lạm phát ở mức thấp, Fed phải tính đến chuyện tăng chi phí đi vay để giữ nền kinh tê đi đúng hướng.

khi-lai-suat-tang

Tại sao lãi suất của Mỹ được giữ ở mức thấp lâu đến vậy?
Từ năm 2007 đến 2009, kinh tế Mỹ đã suy sụp vì thị trường nhà đất và hệ thống ngân hàng sụp đổ. Fed đã thực hiện nhiệm vụ ngăn chặn nền kinh tế rơi vào một cuộc Đại suy thoái khác, trong đó cách mà Fed chọn là giảm chi phí đi vay xuống mức thấp kỷ lục.

khi-lai-suat-tang (1)

Kinh tế Mỹ đã sẵn sàng cho việc nâng lãi suất?
Đó là câu hỏi trị giá hàng nghìn tỷ USD với muôn vàn lựa chọn. Đối với những người lạc quan, Mỹ đã thành công trong việc tạo ra sự phục hồi đáng kể của nền kinh tế, giúp Mỹ “sáng chói” so với nhiều nền kinh tế khác. Họ cho rằng lãi suất tăng thêm 0,25% sẽ mang theo những tác động tiêu cực, nhưng đó là sự hi sinh đúng đắn để Fed đón đầu lạm phát. Còn những người hoài nghi cảnh báo rằng lạm phát vẫn ở mức rất thấp và hành động của Fed có nguy cơ khiến thị trường toàn cầu chao đảo, đồng thời Fed cũng sẽ đẩy đồng USD tăng vọt nếu nâng lãi suất quá sớm.
Lãi suất sẽ tăng nhanh hay chậm?
Fed đã nhiều lần khẳng định lãi suất sẽ không tăng quá nhanh. Một trong những “câu thần chú” đã được Chủ tịch Janet Yellen đưa ra hồi đầu năm nay là lãi suất sẽ được nâng lên từ từ. Theo dự báo, lần tăng đầu tiên sẽ chỉ ở mức 0,25% và cuối cùng lãi suất sẽ chỉ ở mức chưa đến 4%.

khi-lai-suat-tang (2)

Lãi suất sẽ trở lại mức trước khủng hoảng?
Theo dự báo của chính các quan chức Fed, trong tương lai gần câu trả lời là không. Fed tin rằng tăng lãi suất là phù hợp với sự ổn định trong tăng trưởng kinh tế, đồng thời giá cả được dự báo sẽ tăng dần lên sau khi chịu tác động của khủng hoảng. Ở thời kỳ sau khủng hoảng như hiện nay, Fed cần phải đi trước một bước.
Fed tăng lãi suất sẽ ảnh hưởng như thế nào đến kinh tế thế giới?
Điều chỉnh lãi suất liên bang – lãi suất mà các ngân hàng áp dụng cho các khoản vay ngắn hạn trên thị trường liên ngân hàng – sẽ ảnh hưởng đến các loại lãi suất ngắn hạn khác mà các hộ gia đình và doanh nghiệp phải trả.
Động thái này cũng tác động lên cả các lãi suất dài hạn, bao gồm các khoản vay thế chấp và trái phiếu doanh nghiệp. Những thay đổi này cũng ảnh hưởng đến giá tài sản, trong đó có thị trường chứng khoán.

Các doanh nghiệp đã sẵn sàng?
Nhiều doanh nghiệp Mỹ đã tận dụng lợi thế lãi suất thấp để vay tiền thông qua thị trường trái phiếu. Hầu hết nói rằng họ không bị áp lực nếu lãi suất tăng lên chút xíu và tin rằng sự kiện này vốn đã được tính vào giá của trái phiếu do mình phát hành.
Tuy nhiên, một số chuyên gia kinh tế cho biết lãi suất của các khoản nợ có mức xếp hạng thấp sẽ tăng mạnh.

Các “công ty xác sống” là gì và tại sao phải lo lắng về họ?
Đây là các doanh nghiệp chỉ có thể sống sót nhờ lãi suất siêu thấp và rất dễ bị tổn thương trước một đợt nâng lãi suất. Tuy nhiên, giống như “vua trái phiếu” Bill Gross đã nói, đây có thể là một điều tốt lành. Lập luận được ông đưa ra là khi các công ty yếu kém nộp hồ sơ xin phá sản, ông chủ và các nhân viên thường quay sang làm việc cho các công ty đầu tư mạo hiểm thành công hơn. Đây là điều tốt cho nền kinh tế.

Lãi suất ảnh hưởng như thế nào đến tài chính cá nhân?
Lãu suất ngắn hạn tăng tác động tích cực đến những người tiết kiệm vì thu được nhiều lãi hơn từ tiền gửi trong ngân hàng. Tuy nhiên, một loạt lãi suất sẽ tăng lên, trong đó có các khoản vay mua nhà, mua xe hơi, lãi suất thẻ tín dụng…

Người tiêu dùng Mỹ đã chuẩn bị cho sự kiện này?
Gánh nặng nợ của các hộ gia đình đã giảm mạnh so với thời khủng hoảng, thể hiện người tiêu dùng Mỹ đã chuẩn bị tốt cho kịch bản chi phí đi vay tăng lên. Thêm vào đó, sau khi tăng 0,25%, lãi suất vẫn ở mức thấp kỷ lục.

Các nhà đầu tư sẽ phản ứng như thế nào?
Đây là câu hỏi nóng nhất và được quan tâm nhiều nhất trong những ngày này. Một số người cho rằng Fed đã đưa ra những tín hiệu rõ ràng đến mức các thị trường đã chuẩn bị kỹ lưỡng. Tuy nhiên một số người lo sợ biến động sẽ là điều không thể tránh khỏi.

Các nhà kinh doanh ngoại hối đã chuẩn bị những gì?
Luôn biến động mạnh là đặc tính của các thị trường tiền tệ, nhưng biến động về lãi suất sẽ ảnh hưởng đến những động thái trong dài hạn. Ví dụ, nếu một nhà đầu tư ở châu Âu vay tiền giá rẻ ở Berlin và mua trái phiếu Mỹ vốn có lợi suất cao hơn sẽ khiến USD tăng giá so với euro.
Kể từ đầu năm đến nay đồng USD đã tăng giá mạnh và thậm chí còn được dự báo sẽ ngang giá với đồng euro. Chỉ số Dollar Index đã tăng vọt lên mức cao nhất 12 năm, vì nhà đầu tư đặt cược rằng Fed sẽ thắt chặt chính sách và chênh lệch lợi suất trái phiếu sẽ tăng cao hơn nữa.
Giới phân tích dự báo đồng bạc xanh sẽ tiếp tục tăng cao hơn nữa trong những năm tới, khi Fed tiếp tục nâng lãi suất.

Các tài sản đầu tư nào nhạy cảm với lãi suất nhất?
Trong những ngày này, gần như tất cả mọi loại tài sản đều bộc lộ những lỗ hổng khiến chúng có thể rơi vào tình trạng bong bóng, nhưng một số đặc biệt mong manh trước động thái nâng lãi suất của Fed.
Mặc dù các cổ phiếu có vẻ đắt đỏ, lãi suất tăng có nghĩa là nền kinh tế tăng trưởng khỏe mạnh, và đây là điều tốt cho các công ty niêm yết. Vàng là loại tài sản thường mất đi sức hấp dẫn khi lãi suất tăng vì không đem lại lãi suất như một tài khoản ngân hàng nhưng đã tăng mạnh trong thời gian gần đây.
Thị trường trái phiếu được cho là sẽ bị tác động nhiều hơn. Những trái phiếu được xếp hạng cao hiện có mức lãi suất rất thấp, có nghĩa là chúng dễ bị tổn thương trước những biến động dù nhỏ của lãi suất. Các trái phiếu bị xếp hạng ở mức rác chắc chắn sẽ gặp rắc rối.

Bất ổn ở Trung Quốc ảnh hưởng như thế nào đến quyết định của Fed?
Về lý thuyết, các quyết định về lãi suất của Fed được đưa ra dựa trên những đánh giá về kinh tế Mỹ. Tuy nhiên, vì các nền kinh tế mới nổi chiếm 39% GDP toàn cầu (doanh nghĩa) và tỷ lệ lên đến 52% nếu tính theo ngang giá sức mua, chính sách tiền tệ của Fed sẽ gây ra rủi ro lớn đối với lực cầu trên toàn cầu và sau đó sẽ tác động ngược lại đến kinh tế Mỹ.
Logic này đặc biệt đúng với Trung Quốc. Fed tăng lãi suất khiến các tài sản USD hấp dẫn hơn so với nhân dân tệ, do đó dòng vốn sẽ chảy ra khỏi Trung Quốc và nước này sẽ không còn nhiều nguồn lực để đầu tư vào trái phiếu Mỹ.

Tất cả các NHTW lớn trên khắp thế giới đều đang rục rịch tăng lãi suất?
Không, NHTW Anh được dự báo sẽ theo bước Fed và nâng lãi suất. Tuy nhiên, vì xu hướng dài hạn của giá dầu là ở mức thấp, kéo theo lạm phát thấp, nhiều NHTW sẽ nới lỏng chính sách tiền tệ hơn nữa và đặc biệt là mở rộng các gói nới lỏng định lượng.
Chủ tịch NHTW châu Âu Mario Draghi mới đây đã “dọn đường” cho việc mở rộng QE và Nhật Bản cũng làm điều tương tự để đưa lạm phát đến mức mục tiêu. NHTW Trung Quốc cũng có thể cắt giảm lãi suất hơn nữa để kích thích tăng trưởng.
Trong khi đó tương lai của các nền kinh tế mới nổi khó đoán hơn. Nếu Fed tăng lãi suất khiến khủng hoảng nổ ra ở châu Phi, châu Á và Mỹ Latinh, các nước phải lựa chọn hoặc hạ lãi suất để cứu nền kinh tế, hoặc tăng lãi suất để ngăn dòng tiền ồ ạt tháo chạy.

Tại sao Mỹ tăng lãi suất lại ảnh hưởng đến các nền kinh tế mới nổi?
Chúng ta đã nhìn thấy những dấu hiệu cảnh báo sớm về tác động: USD tăng giá chắc chắn sẽ làm giảm giá trị đồng nội tệ của các nước mới nổi vốn đang có nền kinh tế yếu ớt. Nhiều đồng tiền mới nổi đã rơi xuống mức thấp kỷ lục.

Chính sách tiền tệ là gì?
Các NHTW kiểm soát nhiều thứ hơn là lãi suất đơn thuần. “Chính sách tiền tệ” là một cụm từ ám chỉ rất nhiều hành động, trong đó có bán hoặc mua các loại tài sản (như trái phiếu chính phủ), tăng hoặc giảm lượng vốn mà các ngân hàng phải dự trữ và tăng hoặc giảm lãi suất.
Tất cả những hành động này ảnh hưởng đến giá cả và nguồn cung tiền tệ của nền kinh tế. Đây là những công cụ chính để các NHTW đạt được mục tiêu về lạm phát và giúp nền kinh tế tăng trưởng ở mức độ bền vững.
Các thay đổi trong chính sách tiền tệ có thể mất tới 18 tháng để thực sự ảnh hưởng đến nền kinh tế thực.
Nới lỏng và thắt chặt
Khi một NHTW “nới lỏng” hay “thắt chặt” chính sách, những thứ được điều chỉnh là nguồn cung tiền vào nền kinh tế và chi phí đi vay.
Có một số nghiệp vụ được sử dụng khi nới lỏng chính sách tiền tệ: hạ lãi suất, mua vào tài sản để tăng thêm lượng tiền lưu thông…
Thắt chặt là chiều ngược lại. Nếu các nhà hoạch định sách lo ngại rằng nền kinh tế quá nóng và có nguy cơ lạm phát, họ sẽ thắt chặt chính sách bằng cách tăng lãi suất.
Các điều chỉnh lãi suất cũng sẽ mất khoảng 18 tháng để thực sự tác động tới nền kinh tế thực.

Nguồn Tri Thức Trẻ

Administrator Tháng Chín 13, 2015 Không có phản hồi

Putin khó bắt tay với OPEC cứu giá dầu

Có chung mong muốn vực dậy thị trường năng lượng song nhiều rào cản kinh tế và kỹ thuật sẽ khiến Nga và OPEC khó hợp tác để thực hiện mục tiêu này.

Không có nhiều yếu tố có thể khuấy động thị trường dầu thô hơn là đồn đoán Nga có thể sẽ hợp tác với OPEC. Tháng trước, chính những tin đồn như vậy đã đẩy giá dầu thô tăng liên tiếp trong 3 phiên với mức tăng lớn nhất trong vòng 25 năm qua. Dù vậy,vẫn có những lý do về kinh tế và kỹ thuật khiến tin đồn này khó trở thành hiện thực.

“Nga và OPEC từng nhiều lần đàm phán về việc hợp tác cắt giảm sản lượng dầu trước đây, nhưng kết quả vẫn luôn là sự thất vọng. Nga cho rằng, một khi giá dầu giảm, các nước thành viên OPEC sẽ rơi vào vị thế yếu hơn và sẽ phải đi tiên phong trong việc cắt giảm sản lượng dầu. Và thực tế họ đã luôn làm như vậy”, cựu Bộ trưởng năng lượng Algeria – ông Nordine Ait-Laoussine cho biết.

Từ lâu, Nga vẫn cạnh tranh quyết liệt với Saudi Arabia và Mỹ để giành lấy vị trí nước sản xuất dầu lớn nhất thế giới. Trong nỗ lực nhằm cứu vớt giá dầu, Tổng thống Venezuela Nicolas Maduro cho biết đã đạt được thỏa thuận với Nga về những biện pháp nhằm ổn định thị trường trong tuần trước.

Ngay sau đó, các quan chức Nga đã nhanh chóng phủ nhận khả năng chung tay hợp tác như vậy. Bộ trưởng năng lượng Nga Alexander Novak cho rằng, cố gắng cắt giảm sản lượng dầu thô sẽ là biện pháp vô nghĩa về dài hạn. Ông Igor Sechin – Tổng giám đốc tập đoàn dầu khí lớn nhất nước Nga Rosneft, cũng khẳng định Nga sẽ không hợp tác với OPEC và không thể cắt giảm sản lượng dù rất muốn.

Nhu cầu vực lại giá dầu của Nga là có thực khi kinh tế nước này phụ thuộc rất lớn vào năng lượng, đặc biệt là dầu thô. Nhóm mặt hàng này chiếm hơn 60% tổng kim ngạch xuất khẩu của Nga trong khi đà lao dốc của giá dầu đang dần đẩy Nga vào suy thoái sâu. Đóng góp của dầu thô vào ngân sách cũng đã giảm xuống mức thấp nhất từ năm 2009, theo số liệu của Bộ Tài chính Nga.

Tuy nhiên, kinh tế nước này vẫn có thể trụ vững trước đà lao dốc của giá dầu lâu hơn so với nhiều nước thành viên của OPEC. Bộ trưởng Tài chính Nga Anton Siluanov dự đoán, thâm hụt ngân sách của Nga sẽ chỉ rơi vào khoảng 3% GDP năm 2015. Trong khi đó, Saudi Arabia – nước sản xuất dầu lớn nhất của OPEC – sẽ phải chịu mức thâm hụt ngân sách gần 20% GDP năm 2015, theo dự đoán của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF).

Tuần trước, Phó thủ tướng Arkady Dvorkovich cho biết Nga vẫn thấy thoải mái với giá dầu ở trên ngưỡng 60 USD/thùng. Mặt khác theo IMF, một số nước thành viên của OPEC cần đẩy giá dầu thô lên trên 100 USD/thùng để cân bằng ngân sách chính phủ trong khi giá dầu thô Brent đang ở khoảng 49 USD/thùng.

Thậm chí, nếu trong tương lai muốn hợp tác với OPEC để cắt giảm sản lượng dầu thô thì Nga cũng không có khả năng nhanh chóng điều chỉnh sản lượng tăng/giảm như một số nước vùng Vịnh, do điều kiện thời tiết khắc nghiệt và địa chất của các mỏ dầu ở Siberia rất phức tạp.

“Không thể điều chỉnh sản lượng tại các giếng dầu của Nga chỉ đơn giản bằng cách vặn khóa”, một số chuyên gia trong ngành cho biết.

Vai trò của các doanh nghiệp dầu khí tư nhân của Nga

Khác với Saudi Arabia hay Iran, ở Nga, không phải chỉ có duy nhất một doanh nghiệp quốc doanh có thể kiểm soát sản lượng dầu của cả nước. Nga có khá nhiều nhà sản xuất dầu khác được niêm yết trên sàn chứng khoán. Điều này có nghĩa với việc họ không thể hạn chế sản lượng dầu theo cách của các thành viên OPEC, ông Sechin cho hay.

Thậm chí, các doanh nghiệp dầu khí của Nga cũng phản đối liên minh với OPEC. Trên thực tế, việc cắt giảm sản lượng dầu sẽ là cú sốc lớn đối với các doanh nghiệp này bởi họ vẫn đang hoạt động tốt hơn nhiều so với nước ngoài nhờ công nghệ chiết tách dầu của Nga và mức thuế xuất khẩu thấp.

Hiện nay, Nga đang trực tiếp cạnh tranh thị phần với các nước thành viên OPEC, đặc biệt là tại châu Á – thị trường tiêu thụ dầu thô lớn của thế giới.

Trong khi đó, Iran – đất nước có sản lượng dầu thô tương đương với Nga – sẽ tăng sản lượng dầu thêm một triệu thùng/ngày từ năm 2016 sau khi đạt được thỏa thuận để gỡ bỏ lệnh trừng phạt quốc tế. Một câu hỏi đặt ra là, tại sao Nga phải cắt giảm sản lượng trong khi Iran lại chuẩn bị tăng cường năng lực sản xuất?

Quan hệ giữa Nga và OPEC vốn căng thẳng từ thời Liên Xô cũ khi hai bên tranh giành quyền kiểm soát thị trường châu Âu và châu Á, và vấp phải sự xung đột về giá trị giữa Nhà nước Hồi giáo của OPEC và Đảng Cộng sản của Liên Xô.

Ý tưởng về liên minh Nga – OPEC lần đầu tiên được đưa ra vào những năm 1970 như là một cách để đối đầu với đế quốc Mỹ, theo ông Stanislav Zhiznin – Giám đốc Trung tâm Ngoại giao năng lượng và Địa chính trị ở Moscow và là cựu Ngoại trưởng Nga (từ năm 1977 – 2011).

Tuy nhiên vào thời điểm đó, chính OPEC lại không tìm được tiếng nói chung giữa các thành viên. Một số thành viên, như Saudi Arabia, lại ủng hộ Mỹ và chống Liên Xô. Khi đó chính phủ Liên Xô tin rằng họ không chỉ phải tham gia OPEC mà còn phải lãnh đạo tổ chức này.

Việc thành lập liên minh giữa Nga và OPEC nhằm hỗ trợ giá dầu từng được đề cập lại sau vụ khủng bố ngày 11/9 tại Mỹ và cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Tuy nhiên, kết quả đàm phán vẫn là con số không.

Kim Dung
Nguồn VNExpress

Administrator Tháng Chín 11, 2015 Không có phản hồi

7 lý do có thể khiến Mỹ không nâng lãi suất tuần tới

Chứng khoán toàn cầu vẫn rất dễ tổn thương, USD mạnh lên hay lạm phát chưa có dấu hiệu tăng tốc có thể khiến FED trì hoãn kế hoạch nâng lãi suất.

Cuối tuần tới, Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) có phiên họp chính sách quan trọng. Nếu các chỉ số cho thấy nền kinh tế đã thực sự hồi phục tốt, FED có thể quyết định tăng lãi suất sau nhiều năm duy trì ở mức thấp để hỗ trợ doanh nghiệp.

Tuy nhiên, trong báo cáo mới của Deutsche Bank, kinh tế trưởng Joseph LaVorgna đã đưa ra 7 lý do có thể khiến FED chưa nâng lãi suất trong phiên họp chính sách cuối tuần tới. Trước đó, LaVorgna và một số đồng nghiệp đều dự đoán FED sẽ nâng lãi tháng này nhờ kinh tế Mỹ tăng trưởng ổn định.

1. Thị trường chứng khoán toàn cầu vẫn rất mong manh

Chỉ số S&P 500 từng giảm 11% trong 6 phiên liên tiếp hồi tháng 8. Tốc độ này gấp đôi mức điều chỉnh bình thường của chứng khoán Mỹ trước mỗi đợt FED nâng lãi suất.

Chỉ số S&P 500 từng giảm 11% trong 6 phiên liên tiếp hồi tháng 8. Tốc độ này gấp đôi mức điều chỉnh bình thường của chứng khoán Mỹ trước mỗi đợt FED nâng lãi suất.

2. Đôla đang tăng giá

Trong mô hình kinh tế của Fed, Dollar Index (theo dõi biến động tỷ giá giữa USD và một giỏ tiền tệ nhất định) tăng mạnh sẽ gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến lĩnh vực xuất khẩu và GDP thực.

Trong mô hình kinh tế của Fed, Dollar Index (theo dõi biến động tỷ giá giữa USD và một giỏ tiền tệ nhất định) tăng mạnh sẽ gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến lĩnh vực xuất khẩu và GDP thực.

3. Các thị trường tài chính khác vẫn chưa sẵn sàng cho việc Mỹ nâng lãi suất

Các thị trường tài chính trên toàn cầu vẫn chưa tính đến việc Fed nâng lãi suất trong tháng 9. Hơn nữa, lịch sử cho thấy các nhà hoạch định chính sách thường không mấy khi muốn thị trường thất vọng.

4. Các thành viên chủ chốt của Ủy ban Thị trường Mở Liên bang (FOMC) thuộc FED dường như không còn ủng hộ việc nâng lãi suất trong tháng 9

Điều này được thấy rõ thông qua phát biểu của Chủ tịch FED Atlanta – ông Dennis Lockhart, Chủ tịch FED New York – ông William Dudley và Chủ tịch FED San Francisco – ông John William. Qua những biến động của thị trường tài chính toàn cầu từ sau khi Trung Quốc phá giá NDT, các thành viên chủ chốt của FOMC đều bày tỏ lo ngại về rủi ro với kế hoạch nâng lãi suất.

5. FED vẫn còn 2 cơ hội để nâng lãi suất trong năm 2015

fed

Từ giờ đến cuối năm, FED vẫn còn thời gian đánh giá những rủi ro và đợi thị trường tài chính toàn cầu ổn định trước khi quyết định nâng lãi suất. Nếu không hành động trong tháng 9, FED còn 2 cuộc họp chính sách trong tháng 10 và tháng 12 để xem xét lại tính khả thi của kế hoạch.

6. FED sẽ không liều lĩnh đánh mất niềm tin của thị trường

Vì vẫn còn nhiều thời gian để đưa ra quyết định, Fed sẽ không liều lĩnh hủy hoại uy tín của ngân hàng trung ương ngay từ bây giờ. Hiện nay, cả Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ quốc tế đều đã lên tiếng nhắc nhở FED về những rủi ro xung quanh việc nâng lãi suất và khuyên cơ quan này không nên vội vàng thắt chặt chính sách.

7. Lạm phát chưa có dấu hiệu tăng tốc

inflation

Suốt 3 năm qua, lạm phát lõi của Mỹ vẫn luôn thấp hơn mục tiêu của FED. Đây là lý do rất hợp lý để các nhà hoạch định chính sách không nâng lãi suất trong tháng 9.

Nguồn VNExpress