Administrator September 25, 2015 No Comments

Chủ tịch Fed: Lãi suất sẽ tăng vào cuối năm nay

Chủ tịch Fed Janet Yellen tuyên bố Mỹ sẽ tăng lãi suất vào cuối năm nay mặc dù thừa nhận “những bất ngờ” kinh tế có thể khiến kế hoạch thay đổi.

Trong bài phát biểu được coi là chi tiết nhất từ trước đến nay về kế hoạch tăng suất tại Đại học Massachusetts hôm ngày 24/9, Chủ tịch Fed Janet Yellen cho biết, Ngân hàng trung ương Mỹ giữ nguyên ý định nâng lãi suất vào cuối năm nay.

“Hầu hết các thành viên Ủy ban Thị trường Mở Liên bang (FOMC), kể cả tôi, đều tin rằng sẽ đạt đạt được mọi điều kiện cần thiết để có thể tăng lãi suất lần đầu tiên vào cuối năm nay, sau đó là lộ trình thắt chặt chính sách tiền tệ một cách từ từ. Tuy nhiên, nếu nền kinh tế khiến chúng ta ngạc nhiên, đánh giá về chính sách tiền tệ của chúng tôi sẽ thay đổi”.

Tuyên bố trên của bà Yellen được đưa ra chỉ một tuần sau khi Fed quyết định giữ nguyên lãi suất cận 0 với lý do biến động kinh tế tài chính toàn cầu gần đây có thể tác động tiêu cực tới lạm phát và tăng trưởng của Mỹ, nhất là sau khi Trung Quốc bất ngờ phá giá nhân dân tệ hôm 11/8, gây hoảng loạn thị trường tài chính và dấy lên câu hỏi về viễn cảnh kinh tế toàn cầu.

Tom Porcelli, kinh tế trưởng tại RBC Capital Markets nhận định, tuy không có gì thay đổi đáng kể trong 1 tuần qua, nhưng bà Yellen cuối cùng đã thừa nhận bà tin rằng tăng lãi suất vào cuối năm nay là hợp lý. Chuyên gia này cũng dự đoán Fed sẽ tăng lãi suất vào tháng 12, nhưng vẫn còn phải đối mặt với nhiều thách thức từ nay đến lúc đó.

Nguồn Nhipcaudautu

Administrator September 25, 2015 No Comments

USD đảo chiều tăng sau phát biểu của Chủ tịch Fed

Cuối phiên 24/9, USD tăng so với các đồng tiền khác trong giỏ tiền tệ sau khi Chủ tịch Fed cho biết, lãi suất sẽ tăng trước khi năm nay kết thúc.

Chỉ số Đôla Wall Street Journal, theo dõi USD với 16 đồng tiền trong giỏ tiền tệ, lúc 15h50 giờ New York tăng 0,3% lên 88,92 điểm. Chỉ số này giảm xuống 88,52 điểm trong phiên 23/9.

Kết thúc phiên giao dịch, euro giảm 0,5% so với USD xuống 1,117 USD/euro, trước đó, euro tăng 0,33% so với USD.

USD cũng tăng 0,1% so với yên lên 120,52 yên/USD sau khi xuống thấp nhất 1 tuần ở 119,210 yên/USD trong phiên giao dịch.

Chủ tịch Fed Janet Yellen đã đưa ra luận điểm chi tiết nhất về việc Ngân hàng trung ương sẽ bắt đầu tăng lãi suất trong những tháng tới, cho rằng, áp lực lạm phát sẽ dần qua đi trong vài năm tới. Lãi suất tăng sẽ làm tăng tính hấp dẫn của USD đối với giới đầu tư đang tìm kiếm lợi tức.

Tuy vậy, bình luận mới nhất của bà Yellen chưa thể chấm dứt tình trạng bất ổn khi nhiều nhà đầu tư vẫn hoài nghi về khả năng Fed nâng lãi suất trong năm nay.

Nguồn Nhipcaudautu

Administrator September 23, 2015 No Comments

USD đang đóng vai trò hoàn toàn mới trên thị trường toàn cầu

Diễn biến của USD, đồng tiền dự trữ của thế giới, đã vượt ra khỏi ngưỡng thông thường trong 2 tháng qua.

Đó là nhận định Kit Juckes, chiến lược gia toàn cầu tại ngân hàng Société Générale.

Theo vị chiến lược gia này, USD đang có mối tương quan với cả chứng khoán và lợi tức trái phiếu kể từ giữa tháng 7:

us-new-role_2_231520805 us-new-role_1_231520971

Trong 2 tháng qua, vào những ngày khi chứng khoán và lợi tức trái phiếu tăng, USD có xu hướng mạnh lên so với các đồng tiền trong giỏ tiền tệ, kể cả euro, yên, bảng Anh, đôla Canada, krona Thụy Điển và franc Thụy Sĩ.

Vị thế của đồng bạc xanh như đồng tiền quỹ hay như đồng tiền trú ẩn an toàn đang dần mất đi. Thay vào đó, USD trở thành phong vũ biểu phản ánh tâm lý thị trường toàn cầu, ông Juckes cho biết.

USD đang được “đối xử” rất khác so với vài năm trước và khác xa trong lịch sử.

Thông thường, vào những thời điểm thị trường biến động, giới thương nhân đổ xô vào đồng tiền dự trữ của thế giới – đồng bạc xanh. Nhưng điều này lại không diễn ra trong cơn hoảng loạn hồi tháng 8 vừa qua, ít nhất là đối với các đồng tiền trong chỉ số DXY (US Dollar Index) – thước đo giá trị của USD so với một rổ gồm 6 đồng tiền: euro, yên, bảng Anh, đôla Canada, krona Thụy Điển và franc Thụy Sĩ.

Một yếu tố đáng chú ý trong ví dụ này sự biến động chỉ giới hạn ở thị trường tài chính chứ không phải toàn bộ nền kinh tế. Trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế toàn cầu ảm đạm, USD có thể lấy lại vị thế tài sản trú ẩn an toàn vốn có.

Và ngay sau cuộc Đại suy thoái, USD yếu hơn, lợi tức trái phiếu giảm và viễn cảnh tăng trưởng ảm đạm đã thúc đẩy việc sử dụng đồng bạc xanh làm đồng tiền quỹ (funding currency). Điều này có nghĩa rằng giới đầu tư sẽ bán USD và sử dụng số tiền thu được để mua tài sản nước ngoài có lợi suất cao hơn trong một giao dịch gọi là carry trade (thuật ngữ trong kinh doanh ngoại hối để chỉ một hình thức đầu tư nhằm khai thác sự chênh lệch lãi suất của các loại tiền tệ trong những nền kinh tế khác nhau).

Do trái phiếu kho bạc Mỹ yêu cầu khoản tiền đáng kể liên quan đến khoản nợ bằng các đồng tiền chủ chốt khác, nên vai trò của đồng bạc xanh như đồng tiền quỹ đã bị euro thay thế.

Nguồn Nhipcaudautu

Administrator September 23, 2015 No Comments

USD lên cao nhất 3 tuần do đặt cược Fed nâng lãi suất

Phiên 22/9 USD lên cao nhất 3 tuần so với euro do giới đầu tư tin rằng Fed sẽ nâng lãi suất trong năm nay trong khi ECB tiếp tục nới lỏng.

Theo giới phân tích, thị trường dự đoán, trái với Fed, Ngân hàng trung ương châu Âu (ECB) sẽ tiếp tục nới lỏng chính sách tiền tệ.

Kết thúc phiên giao dịch, euro giảm 0,49% so với USD xuống 1,11345 USD/euro, trong phiên có lúc euro giảm xuống 1,11130 USD/euro, thấp nhất so với đồng bạc xanh kể từ 4/9 sau khi bình luận của các quan chức Fed cho thấy Ngân hàng trung ương Mỹ vẫn giữ lộ trình tăng lãi suất trong năm nay.

Tuy nhiên, USD lại giảm 0,42% so với yên lên 120,055 yên/USD trong khi tăng 0,32% so với franc Thụy Sĩ lên 0,97480 franc/USD.

Chỉ số Đôla ICE, đo sức mạnh của USD với 6 đồng tiền chủ chốt trong giỏ tiền tệ, tăng 0,37% lên 96,250 điểm, chỉ thấp hơn đôi chút so với mức cao nhất 2 tuần ở 96,404 điểm.

USD giảm so với yên chủ yếu do lo ngại về tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Thị trường vẫn đang nghiền ngẫm tuyên bố Fed sau phiên họp chính sách hôm 17/9 và bình luận của Chủ tịch Fed Janet Yellen liên quan đến những lo ngại về kinh tế toàn cầu, giúp yên trở thành hầm trú ẩn an toàn.

Lo ngại về Fed và tăng trưởng kinh tế toàn cầu ảm đạm cũng gây áp lực lên chứng khoán Mỹ. Giới đầu tư đang chờ số liệu sản xuất tháng 9 của Trung Quốc. Trong khi đó, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đã hạ dự báo tăng trưởng của Trung Quốc năm nay xuống 6,8% từ 7,2% dự báo trước đó.

Chủ tịch ECB Mario Draghi sẽ có bài phát biểu vào thứ Tư trong khi Chủ tịch Fed Yellen sẽ phát biểu vào thứ Năm. Giới phân tích dự đoán ông Draghi sẽ phát tín hiệu tăng cường kích thích, khiến euro tiếp tục giảm so với USD.

Nguồn Nhipcaudautu

Administrator September 19, 2015 No Comments

Ai là người thực sự đứng sau mỗi đợt tăng lãi suất của Fed?

Mỗi đợt tăng lãi suất của Fed, trọng trách đều được đặt lên vai nhà kinh tế gốc Anh Simon Potter. Vậy ông là ai?

Simon Potter, 54 tuổi, là người chịu trách nhiệm thực thi các mục tiêu của Fed về lãi suất liên bang – loại lãi suất chủ chốt mà Fed dùng để điều hành chính sách tiền tệ. Potter phụ trách một nhóm các nhà giao dịch tại Fed New York tại tầng 9 của trụ sở ở Mahattan.

Sau khi kết thúc phiên họp 2 ngày vào 17/9, Ủy ban thị trường mở (FOMC) đã quyết định không nâng lãi suất – đang được duy trì ở mức cận 0 kể từ tháng 12/2008 đến nay.

Từ nay đến cuối năm Fed còn 2 phiên họp nữa, vào tháng 10 và tháng 12. Và, bất cứ khi nào Fed quyết định nâng lãi suất, điều đó chứng tỏ cơ quan này tự tin rằng nền kinh tế đã đủ khỏe để chịu đựng đồng tiền đắt đỏ hơn. Fed cũng phải lo lắng lãi suất quá thấp có thể tạo ra lạm phát.

Mặc dù trên toàn nước Mỹ có đến 12 ngân hàng dự trữ trực thuộc hệ thống của Fed, New York vẫn là anh cả. Chính sách tiền tệ được quyết định tại Washington và hàng trăm nhà kinh tế học cùng chuyên gia nghiên cứu trực thuộc hệ thống Fed sẽ tham gia thiết kế những công cụ mới để thực hiện chính sách đó. Cuối cùng người đưa những công cụ này đi vào hoạt động là ông Potter. Lúc đó, các chính sách tiền tệ mới chính thức được ra đời.

Nếu coi hệ thống tài chính Mỹ như một đường ống dẫn nước chảy xuyên suốt các hang cùng ngõ hẻm từ thành thị đến nông thôn nước Mỹ, thì Simon Potter chính là người vận hành hệ thống đường ống này bằng cách đóng và mở van để đưa dòng tiền đến những nơi Fed muốn.

Simon Potter

Simon Potter

“Simon là một nhân tài xuất chúng và giàu kinh nghiệm.” Carl Tannenbaum, kinh tế trưởng tại Northern Trust Chicago cho hay.

Fed đang tiến tới những giới hạn mà nó chưa từng chạm đến. Chưa bao giờ Fed phải cố gắng tăng lãi suất trong bối cảnh hệ thống ngân hàng đang ngập trong 2.500 tỷ USD tiền dự trữ như hiện nay. Các chuyên gia kinh tế và giới giao dịch đang cầu mong các thị trường tài chính sẽ không bị xáo trộn khi Fed bắt đầu thắt chặt chính sách tiền tệ.

Vấn đề là, Fed không thể chỉ đơn thuần thông báo về lãi suất. Ở Mỹ, lãi suất sẽ được quyết định bởi những lực đẩy trên thị trường. Việc duy nhất Fed có thể làm là tác động đến thị trường để khiến lãi suất liên bang hướng đến mục tiêu mà họ đã đề ra.

Nhiệm vụ này sẽ dễ dàng hơn rất nhiều khi tiền khan hiếm trên thị trường liên ngân hàng và xuất hiện những nhu cầu tự nhiên trên thị trường. Tuy nhiên, bối cảnh ngày nay khiến nhiệm vụ trở nên khó khăn hơn khi nguồn vốn đang dư thừa.

Ông Potter không phải lúc nào cũng là “bậc thầy sửa đường ống tài chính”. Trước khi đảm nhận vị trí Trưởng Bộ phận Thị trường của Fed năm 2012, ông là giám đốc phụ trách nghiên cứu lý thuyết kinh tế.

Theo tiiểu sử của ông trên website ngân hàng, chuyên môn nghiên cứu của ông là phân tích chuỗi thời gian ứng dụng sử dụng phương pháp Bayesia. Potter cũng từng tham gia giảng dạy tại trường đại học UCLA, Johns Hopkins, New York University và Princeton trước khi đầu quân cho Fed New York năm 1998.

Ông có bằng cử nhân và bằng thạc sĩ tại Đại học Oxford và bằng tiến sĩ tại Đại học Wisconsin. Hiện nay, ông đang quản lý các tài khoản thuộc hệ thống thị trường mở cho FOMC.

Potter khá nhạy cảm với “động lực học phi tuyến” – hệ thống không bao giờ di chuyển theo đường thẳng. Khả năng này sẽ giúp cho anh thực hiện tốt các mong muốn của ủy ban. Brian Sack, giám đốc kinh tế toàn cầu tại quỹ D.E. Shaw, tiền bối của Potter tại vị trí của anh hiện nay nhận định “Khả năng nhanh nhẹn sẽ là chìa khóa để đáp ứng với sự phát triển của thị trường và mục tiêu kiểm soát lãi suất trong ngắn hạn. Simon đã làm tất cả mọi thứ mọi người mong chờ để chuẩn bị sử dụng những công cụ Fed đưa ra.”

Và, với quyết định hôm 17/9 của Fed, có lẽ Simon Potter sẽ phải chờ đến cuối năm mới có thể sử dụng những công cụ này.

Nguồn Nhipcaudautu , Bloomberg

Administrator September 19, 2015 No Comments

USD thoát đáy 3 tuần nhờ lực mua kỹ thuật

Phiên 18/9 USD hồi phục từ mức đáy 3 tuần, một ngày sau khi Fed quyết định giữ nguyên lãi suất, nhờ lực mua kỹ thuật sau phiên bán tháo trước đó.

Quyết định của Fed đã gây thất vọng cho giới đầu tư đang muốn một quá trình bình thường hóa lãi suất.

Đầu phiên, giới đầu tư tiếp tục bán ra USD trước khi chốt lời các đồng tiền khác như euro và yên vào cuối phiên.

Về cuối phiên, chỉ số Đôla ICE, theo dõi sức mạnh của USD với 6 đồng tiền chủ chốt trong giỏ tiền tệ, tăng 0,7% lên 95,191 điểm sau khi giảm xuống thấp nhất 3 tuần ở 94,063 điểm.

Chốt phiên giao dịch, euro giảm 1,2% so với USD xuống 1,1294 USD/euro sau khi lên cao nhất 3 tuần ở 1,1459 USD/euro. Trong khi đó, USD khá ổn định so với yên ở 119,96 yên đổi 1 USD.

Trong bảng giao dịch khác, đôla Úc tăng 0,3% so với đồng bạc xanh lên 0,7189 USD/đôla Úc và đôla New Zealand tăng 0,3% so với USD lên 0,64 USD/đôla New Zealand.

Một số nhà phân tích dự đoán USD sẽ tăng trở lại trong ngắn hạn ngay khi việc Fed sẵn sàng kết thúc chính sách lãi suất cận 0 trở nên rõ ràng.

Thị trường đã giảm tỷ lệ dự đoán lãi suất sẽ tăng trong năm nay, phần nào làm giảm viễn cảnh ngắn hạn của USD.

Theo chương trình FedWatch của CME Group, hôm thứ Sáu 18/9 tỷ lệ dự đoán Fed sẽ nâng lãi suất trong tháng 10 chỉ còn 11% so với 41% hôm thứ Năm.

Nguồn Nhipcaudautu tổng hợp từ Reuters 

Administrator September 17, 2015 No Comments

FED thất bại với chính sách lãi suất thấp kỷ lục

Gần 7 năm sau khi FED hạ lãi suất xuống gần 0%, các nhà hoạch định Mỹ cho rằng chính sách lãi suất thấp và nới lỏng tiền tệ đã không thể thúc đẩy kinh tế như kỳ vọng.

Trong bối cảnh toàn cầu có dấu hiệu tăng trưởng chậm chạp, Mỹ vẫn là nền kinh tế có tốc độ phục hồi nhanh nhất khu vực Thái Bình Dương sau khủng hoảng 2008, nhờ các biện pháp kích thích chưa từng có của FED. Dẫu vậy, các nhà hoạch định chính sách vẫn chưa thực sự hài lòng với kết quả đạt được. Họ cho rằng chính sách lãi suất thấp và nới lỏng tiền tệ đã không thể tạo ra động lực thúc đẩy kinh tế Mỹ phục hồi bền vững như kỳ vọng.

Donald Kohn là cựu Phó chủ tịch Hội đồng Thống đốc FED trong giai đoạn cao trào của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, và cũng là một trong nhiều những quan chức tham gia xây dựng kế hoạch đối phó với khủng hoảng. Ông nhận định sự phục hồi của kinh tế Mỹ với tốc độ tăng trưởng trung bình năm 2,2% trong 6 năm qua thực sự đáng thất vọng.

“Tôi cũng dự đoán kinh tế Mỹ sẽ phục hồi chậm chạp, nhưng lượng tín dụng sẽ phải dồi dào hơn theo thời gian, và chính sách lãi suất suất gần 0% sẽ giúp kích thích chi tiêu hơn nữa. Vì vậy, tình hình đúng là đáng thất vọng”, ông Kohn nói.

Ngoài GDP, tăng trưởng lương hàng năm cũng chỉ đạt 2,2% – thấp hơn nhiều so với kỳ vọng của FED. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động tại Mỹ hiện cũng ở mức thấp nhất từ những năm 1970. Nguyên nhân là thế hệ sinh ra trong thời kỳ bùng nổ dân số bước vào tuổi nghỉ hưu và nhiều công nhân tiềm năng từ bỏ tìm việc làm.

Trong khi đó, lạm phát vẫn chưa thể lên mức mục tiêu 2% mà FED đề ra từ năm 2012, dù các nhà hoạch định chính sách đã hạ lãi suất xuống thấp kỷ lục và triển khai chương trình nới lỏng.

Tuy nhiên, Mỹ cũng đạt được một số thành tựu. Tỷ lệ thất nghiệp tính đến tháng 8/2015 đã xuống thấp nhất 7 năm ở 5,1%. Tốc độ tăng trưởng GDP quý II/2015 đạt 3,7% – cao hơn nhiều mức tăng trưởng trong thời gian dài trước đó.

Những thất bại của kinh tế cũng có thể quy cho một loạt yếu tố khác, như niềm tin đầu tư suy yếu vì khủng hoảng nợ châu Âu, chính sách tài khóa tại Mỹ bị thắt chặt và tăng trưởng năng suất yếu ớt.

Giáo sư Kenneth Rogoff tại Harvard từng nghiên cứu hậu quả của các cuộc khủng hoảng tài chính. Ông cho biết, nếu theo chu kỳ bình thường, FED đã phải nâng lãi suất ít nhất 6 tháng trước, do thị trường lao động đang phục hồi ổn định. “Tuy nhiên, đây không phải là một chu kỳ bình thường. GDP đang cải thiện, nhưng lạm phát nhích lên quá ít có vẻ chưa phải vấn đề to tát nếu so với rủi ro đẩy cả nền kinh tế vào suy thoái”, Rogoff nhận định.

Bức tranh kinh tế Mỹ trở nên phức tạp hơn khi những “điểm nóng” mới bắt đầu xuất hiện. Một ví dụ điển hình là thị trường bất động sản thương mại. Từ lâu, giá trị của lĩnh vực này đã vượt đỉnh thời tiền khủng khoảng – thời điểm mà bất động sản vốn đã là một rắc rối lớn với sự ổn định của hệ thống tài chính.

“Lãi suất thấp đã thúc đẩy nhu cầu về bất động sản thương mại, đặc biệt trong bối cảnh mọi người chỉ muốn kiếm lợi nhuận cao”, Phó Chủ tịch Don Capobres hãng bất động sản Grosvenor Americas nhận xét.

Ông Capobres cho rằng, việc FED nâng lãi suất sẽ ảnh hưởng rất lớn đến giá trị của lĩnh vực bất động sản. Tuy nhiên, giá bất động sản tại các thành phố cửa ngõ như Washington và San Francisco, được dự báo vẫn ở mức cao trong tương lai gần.

Một điểm nóng khác của kinh tế Mỹ là thị trường nợ doanh nghiệp. Trong 8 tháng đầu năm 2015, khi thời điểm chi phí vay vốn còn thấp, các doanh nghiệp Mỹ đã phát hành tổng 568 tỷ USD trái phiếu được xếp hạng “có thể đầu tư”. Con số này đã phá kỷ lục trong cùng kỳ các năm từ 2011.

Các doanh nghiệp tăng cường phát hành nợ một phần nhằm chi trả cho những thương vụ mua lại và sáp nhập lớn trên thị trường. Từ đầu năm 2015, các doanh nghiệp Mỹ đã bán ra hơn 211 tỷ trái phiếu rủi ro cao (trái phiếu rác), trong khi con số này chỉ đạt hơn 200 tỷ USD trong 8 tháng đầu của các năm tính từ 2011. Thậm chí thời điểm cao trào của bong bóng tín dụng năm 2007 cũng chỉ có 115 tỷ trái phiếu rủi ro được bán ra.

Jeremy Stein – một cựu thống đốc của FED hiện làm việc tại Đại học Harvard, cho rằng Ủy ban Thị trường mở Liên bang Mỹ (FOMC) đã đúng khi áp dụng chính sách lãi suất thấp kỷ lục vào thời điểm tỷ lệ thất nghiệp lên hơn 8%.

“Tuy nhiên, chính sách đó không phải là không có rủi ro. Khi đẩy giá tài sản lên cao và thắt dòng tín dụng lại, chắc chắn sự ổn định của hệ thống tài chính sẽ gặp rủi ro lớn. Đến một thời điểm nào đó, nó sẽ gây ra một cuộc suy thoái nhỏ”, ông Stein nói.

Những biến động gần đây trên các thị trường tài chính, cùng lo ngại xung quanh kinh tế Trung Quốc có thể khiến FED tạm dừng kế hoạch nâng lãi suất trong tháng 9/2015. Charles Plosser – cựu Chủ tịch Fed Philadelphia cho rằng FED cần chắc chắn rằng sẽ không quá phụ thuộc vào các thị trường tài chính.

“FOMC hay cuộc tranh luận giữa các quan chức FED càng chú trọng vào giá tài sản thì càng chứng tỏ họ chỉ quan tâm tới giá tài sản và sẽ hành động chỉ vì nó mà thôi”, ông Plosser nói.

Phát biểu của ông Plosser lại đưa ra một vấn đề lớn hơn. 8 năm trước, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã đẩy kinh tế thế giới tới bờ vực của sự sụp đổ, và buộc chính phủ các nước Thái Bình Dương đổ hàng trăm tỷ USD nhằm cứu vớt hệ thống ngân hàng phá sản. Tuy nhiên, 8 năm sau, các ngân hàng trung ương vẫn chẳng khá hơn khi hoạch định các chính sách tiền tệ, tài chính, nhằm đảm bảo kinh tế tăng trưởng ổn định trong dài hạn.

Những lý thuyết và phương pháp tiếp cận cũ rích nhằm vào lạm phát đã hoàn toàn thất bại khi kích hoạt cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2007 – 2009, do các nước phớt lờ lạm phát giá tài sản. Tuy nhiên, hiện nay khi giá một số tài sản đang ở mức cao, các nhà hoạch định chính sách vẫn ưu tiên trì hoãn tăng lãi suất do giá cả nhiều hàng hóa đang suy yếu.

Chẳng ai cần phải nhắc lại quyền lực của FED đối với thị trường toàn cầu. Bởi những ký ức về thời điểm cựu chủ tịch FED Paul Volcker kích hoạt cuộc suy thoái đầu thập niên 80 để chống lạm phát vẫn còn rất rõ ràng. Và đến nay, một lần nữa, số phận của kinh tế thế giới lại nằm trong sự phán xét của một vài cá nhân mà không có mô hình kinh tế đáng tin cậy nào hướng dẫn họ.

Nguồn VNExpress

Administrator September 17, 2015 No Comments

FED giữ lãi suất ở mức thấp kỷ lục

Quyết định giữ lãi suất cơ bản ở tiệm cận 0% của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ tiếp tục kéo dài sự chờ đợi của thị trường tài chính toàn cầu đến cuối năm.

Quyết định được đưa ra sau cuộc họp chính sách kéo dài 2 ngày của Uỷ ban Thị trường mở Liên bang Mỹ (FOMC) thuộc FED, trong đó trọng tâm là quyết định có nâng lãi suất từ mức tiệm cận 0%, vốn đã được duy trì trong gần 7 năm qua. Đây là quyết định ảnh hưởng đến hàng triệu người Mỹ và thị trường kinh tế – tài chính toàn cầu.

Thông cáo được FOMC đưa ra ngay sau đó cho biết lý do chính khiến FED tiếp tục trì hoãn tăng lãi suất là chỉ số lạm phát tại Mỹ vẫn chưa đạt mục tiêu 2%, triển vọng kinh tế toàn cầu vẫn bất định cùng với những xáo trộn trên thị trường tài chính thế giới thời gian gần đây.

“Tình hình kinh tế toàn cầu gần đây và những biến động tài chính có thể gây áp lực lên lạm phát trong ngắn hạn”, thông cáo được Chủ tịch FED – Janet Yellen đọc tại cuộc họp báo lúc 1h30 ngày 18/9 (giờ Hà Nội) nhận định.

Cũng theo bà Yellen, kinh tế Mỹ đang đi đúng hướng và chắc chắn. Tuy nhiên, FED sẽ tiếp tục duy trì chính sách lãi suất thấp để hỗ trợ tăng trưởng nhằm đạt được mục tiêu giảm tối đa tỷ lệ thất nghiệp (đang ở mức xấp xỉ 5%), đồng thời mục tiêu lạm phát trung hạn của nền kinh tế đạt mục tiêu 2%.

Tuy vậy, trả lời câu hỏi của phóng viên CNBC, người đứng đầu ngân hàng hàng trung ương Mỹ cũng tiết lộ phần lớn các thành viên của FED đều tin tưởng vào việc những tiến triển nêu trên có thể được phản ánh trong vài tháng tới, qua đó tiếp tục hàm ý về khả năng tăng lãi suất ngay trong năm 2015.

Trước đó, giới phân tích cũng như thị trường tài chính bị chia rẽ bởi những suy đoán liên quan đến quyết định của FED. Những người ủng hộ cho rằng tỷ lệ thất nghiệp thấp, sức mua cũng như tốc độ tăng trưởng ổn định của kinh tế Mỹ sẽ là cơ sở cho việc bình thường hoá lãi suất, sau thời kỳ nới lỏng để phục hồi. Trong khi đó, việc chỉ số phát vẫn chưa đạt yêu cầu, sức ép từ việc Trung Quốc phá giá nhân dân tệ và khối nợ doanh nghiệp Mỹ… là những lý do được đưa ra cho những nhận định cho rằng FED sẽ trì hoãn quyết định đến cuối năm.

* Tiếp tục cập nhật

Nguồn VNExpress

Administrator September 17, 2015 No Comments

Những điều cần biết về lãi suất Mỹ

Lãi suất liên bang là công cụ giúp FED kiểm soát nền kinh tế, đã được giữ gần 0% nhiều năm nay và có thể lên quanh 3% trong 2 năm tới.

Từ nhiều tháng nay, thị trường đang tập trung vào kế hoạch nâng lãi suất của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED), vốn đã duy trì gần 0% từ sau khủng hoảng 2008. Phiên họp 2 ngày của Ủy ban Thị trường Mở liên bang (FOMC) thuộc FED sẽ kết thúc hôm nay. Nếu được thông qua, đây sẽ là đợt tăng lãi đầu tiên của Mỹ kể từ năm 2006. Dưới đây là những điều nhà đầu tư cần biết về lãi suất Mỹ.

1. Lãi suất liên bang (federal funds rate) là gì?

Đây là mức lãi FED áp dụng cho các khoản vay qua đêm liên ngân hàng. Những thay đổi trong lãi suất này thường có tác động lớn lên nền kinh tế, ảnh hưởng đến lãi suất ngắn hạn và dài hạn, tỷ giá đồng đôla Mỹ và nhiều lĩnh vực khác, trong đó có tình hình việc làm và chỉ số giá tiêu dùng.

2. FED điều chỉnh lãi suất để làm gì?

Thông qua lãi suất này, FED có thể quản lý cung tiền trên thị trường. Họ sẽ hạ lãi suất để khuyến khích tiêu dùng và đầu tư, nhằm kích thích nền kinh tế. Ngược lại, khi nhận thấy Mỹ tăng trưởng quá nóng, FED sẽ nâng lãi.

Khi lạm phát tăng vọt giai đoạn 1979-1980, FED đã đẩy lãi suất lên kỷ lục 20% để bình ổn nền kinh tế. Nhưng việc này cũng khiến Mỹ rơi vào suy thoái trong 2 năm sau đó.

Sau khi Mỹ tăng trưởng chậm lại năm 2000, vì bong bóng cổ phiếu công ty Internet (bong bóng dotcom), FED đã dần hạ lãi suất để kích thích GDP. Nhưng việc này sau đó lại châm ngòi cho bong bóng nhà đất, dẫn đến cuộc khủng hoảng 2008.

3. Tại sao lãi suất hiện thấp như vậy?

Khi kinh tế Mỹ bắt đầu chững lại năm 2007, FED đã hạ lãi suất 10 lần, từ 4,75% tháng 9/2007 xuống 0-0,25% ngày 16/12/2008. Mục tiêu là ngăn Mỹ rơi vào một cuộc suy thoái nữa.

Từ đó, họ đã giữ lãi suất gần 0% để đưa nền kinh tế hồi phục sau cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất 8 thập kỷ qua. Giờ đây, khi Mỹ đang dần tăng trưởng, rất nhiều người cho rằng giữ lãi suất thấp thế này là không cần thiết nữa.

4. Lợi và hại của lãi suất thấp?

Lãi suất thấp kỷ lục khiến tín dụng dễ dàng phân bổ khắp nền kinh tế. Chính sách nới lỏng tiền tệ đã khuyến khích người dân mua nhà, mua xe, hỗ trợ thị trường bất động sản và ôtô tại Mỹ hồi phục nhanh hơn.

Nhưng mặt khác, lãi suất thấp lại đánh vào túi tiền các nhà đầu tư và người gửi tiết kiệm, khiến họ gần như chẳng có lời. Việc này cũng sẽ khiến lạm phát tăng tốc trở lại.

5. Bình thường hóa lãi suất là gì?

Một số quan chức FED đã tuyên bố rõ họ muốn lãi suất quay về mức “bình thường”. Họ dự báo lãi suất sẽ lên quanh 3% trong 2 năm, nhưng điều này sẽ còn phụ thuộc vào tốc độ tăng trưởng và lạm phát.

6. Kinh tế Mỹ đã sẵn sàng để tăng lãi suất chưa?

Đây là câu hỏi trị giá cả nghìn tỷ USD, và các ý kiến cũng rất đa dạng. Với những người lạc quan, FED đã làm rất tốt công việc phục hồi kinh tế Mỹ, so với nhiều nước khác. Vì thế, họ cho rằng tăng 0,25% cũng chẳng có mấy ảnh hưởng. Thay vào đó, đây còn là nước đi thông minh để đảm bảo mục tiêu lạm phát.

Nhưng những người bi quan thì cảnh báo lạm phát vẫn đang ở đáy. Và FED sẽ làm náo loạn thị trường tài chính, cũng như đẩy giá đồng đôla lên, nếu hành động quá sớm.

7. Lãi suất có tăng nhanh không?

Người ta tin rằng FED sẽ không để lãi suất tăng nhanh. Chính Chủ tịch FED – bà Janet Yellen cũng từng nói lãi sẽ được nâng lên từ từ. Tốc độ này được dự báo chỉ bằng nửa những lần tăng lãi trước của FED. Và khi dừng lại, nó cũng sẽ chỉ ở quanh mốc rất thấp – khoảng 3% mà thôi.

8. Ảnh hưởng của việc này lên nền kinh tế?

Điều chỉnh lãi suất liên bang sẽ có tác động lên các khoản vay ngắn hạn của các công ty và hộ gia đình. Chúng cũng sẽ có tác động liên hoàn lên các lãi suất dài hạn, như các khoản vay mua nhà hay lãi suất trái phiếu. Thay đổi trong lãi suất dài hạn lại kéo theo ảnh hưởng lên giá tài sản, trong đó có cổ phiếu.

Trong suốt thời kỳ khủng hoảng, FED cũng đã mua vào rất nhiều chứng khoán đảm bảo bằng tài sản thế chấp (MBS) và trái phiếu Chính phủ để hạ thấp lãi suất dài hạn.

Nguồn VNExpress

Administrator September 17, 2015 No Comments

Được – mất khi FED tăng lãi suất

Người gửi tiền sẽ rất vui mừng nếu được nhận lãi suất cao hơn, còn người đi vay, các hãng xuất khẩu và thị trường mới nổi thì ngược lại.

Câu hỏi lớn nhất của thị trường tuần này là liệu Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) sẽ tăng lãi suất ngay trong tháng 9 hay tiếp tục trấn an người tiêu dùng, doanh nghiệp và thị trường toàn cầu với quan điểm kiên nhẫn. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) từng cảnh báo với những nền kinh tế lớn rằng, giờ còn quá sớm để nâng lãi suất, do tăng trưởng toàn cầu vẫn còn nhiều rủi ro.

Tuy nhiên, trong cuộc họp chính sách ngày 16 – 17/9, các nhà hoạch định chính sách của Ủy ban Thị trường mở Liên bang (FOMC) thuộc FED nhiều khả năng sẽ quyết định nâng lãi suất trong ngắn hạn. Và nếu điều này xảy ra, chỉ một thay đổi nhỏ cũng có thể tạo nên những phản ứng trái chiều trên các thị trường.

Dù sớm hay muộn, việc FED nâng lãi suất cũng sẽ mang lại những ảnh hưởng cả tích cực và tiêu cực.

1. Tin xấu với người đi vay

Các khoản vay mua nhà sẽ đắt đỏ hơn với người Mỹ. Ảnh: US News

Các khoản vay mua nhà sẽ đắt đỏ hơn với người Mỹ. Ảnh: US News

Nếu FED tăng lãi suất, những người đi vay vốn dù ở nhiều mức lãi suất khác nhau, đều sẽ phải chịu tác động tiêu cực. Các khoản vay mua nhà trở nên đắt đỏ, số lãi phải trả trên thẻ tín dụng cũng sẽ tăng mạnh.

Những người muốn vay vốn học đại học cũng sẽ nhận thấy tác động tiêu cực của việc FED nâng lãi suất. Tuy nhiên, những ai đã vay rồi sẽ không bị ảnh hưởng do lãi suất trên các khoản này là cố định. Những doanh nghiệp phụ thuộc lớn vào vay nợ cũng sẽ chịu áp lực.

2. Tin tốt với người tiêu dùng, công dân có địa vị cao và người gửi tiết kiệm

Từ năm 2007, những người gửi tiền tiết kiệm không thể kiếm được nhiều từ các khoản tiền gửi tại ngân hàng. Tuy nhiên, nếu FED nâng lãi suất, các ngân hàng sẽ phải trả lãi cao hơn cho khách. Đây thực sự là tin tốt với những người nghỉ hưu, bởi họ có thể kiếm được một khoản đáng kể từ số tiền gửi trong tài khoản tiết kiệm. Lãi suất tăng cũng giúp người dân Mỹ dễ dàng mua hàng hóa nước ngoài hơn.

3. Tin xấu với các hãng xuất khẩu

Nhưng ngược lại, nâng lãi suất đồng nghĩa USD sẽ tăng giá mạnh, dẫn tới hàng hóa của Mỹ trở nên đắt đỏ với thị trường thế giới. Kết quả là, lĩnh vực thương mại của Mỹ có thể sẽ bị thiệt hại lớn.

4. Tin xấu với các thị trường mới nổi

Trong khi thị trường mới nổi còn đang chật vật với cơn hoảng loạn xuất phát từ Trung Quốc, FED nâng lãi suất có thể sẽ gây tổn hại thêm đến những nước này, do dòng vốn sẽ ào ạt quay về Mỹ. Trong đó, lĩnh vực thương mại, tiền tệ và thị trường việc làm có thể sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất.

Tuần trước, kinh tế trưởng Kaushik Basu tại Ngân hàng Thế giới (WB) từng cảnh báo việc FED nâng lãi suất có thể châm ngòi cho những hoảng loạn và biến động mạnh trên các thị trường mới nổi. Cơ quan này nên đợi đến khi kinh tế toàn cầu ổn định hơn.

Daniel Tenegauzer – Giám đốc chiến lược khối thị trường mới nổi và ngoại hối toàn cầu RBC Capital Markets giải thích một khi FED nâng lãi suất, USD sẽ tăng giá mạnh. Đây sẽ là động lực khuyến khích giới đầu tư toàn cầu đổ vốn mạnh hơn vào Mỹ thay vì các thị trường mới nổi. Nói cách khác, FED nâng lãi suất sẽ kích hoạt dòng vốn khổng lồ tháo chạy khỏi các thị trường mới nổi.

Nếu USD liên tục tăng giá trong thời gian dài, các khoản nợ USD của khối thị trường mới nổi có thể sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Trong đó, Brazil, Thổ Nhĩ Kỳ, Indonesia, Nga và Nam Phi có thể sẽ rơi vào thời kỳ kinh tế khó khăn trong nửa sau của năm 2015, do chi phí vay vốn tăng cao.

Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS) cũng từng cảnh báo hồi tháng 6/2015 rằng việc vay vốn ồ ạt trong vài năm gần đây sẽ khiến các thị trường mới nổi càng dễ bị tổn thương khi FED thắt chặt chính sách. USD càng tăng giá mạnh, họ càng khó xoay sở để trả nợ, và dần tăng trưởng chậm lại.

Financial Times trích lời của Giám đốc Bank of America Merrill Lynch – ông David Hauner cho biết, những nền kinh tế mới nổi, như Brazil, Nga và Nam Phi có thể sẽ chịu tác động mạnh nhất do cả 3 đều là nước xuất khẩu hàng hóa lớn trên thế giới. Thậm chí, các thị trường mới nổi sẽ bị mắt kẹt giữa đà tăng giá của USD và sự suy yếu của kinh tế Trung Quốc.

4. Tin xấu với lãi suất cho vay thế chấp

Lãi suất cơ bản của Mỹ gián tiếp tác động tới lãi suất cho vay thế chấp, bởi lãi suất cơ bản được áp dụng trong thời gian dài và được điều chỉnh tuỳ theo cung – cầu trên thị trường vay thế chấp.

Thị trường bất động sản của Mỹ hiện phụ thuộc rất lớn vào hoạt động cho vay thế chấp. Chính vì vậy, khi chi phí vay vốn tăng cao, người dân Mỹ càng khó xoay sở để mua được nhà. Một khi nhu cầu mua nhà giảm, những lĩnh vực có liên quan, như sản xuất đồ gia dụng, sàn nhà, ống nước,… cũng sẽ chịu thiệt hại.

Lãi suất cơ bản chỉ là một trong nhiều yếu tố của thị trường có thể điều tiết lãi suất cho vay thế chấp dài hạn, nhà phân tích Lawrence Yun cho biết trên Forbes. Một số yếu tố khác là lạm phát, dự trữ ngoại tệ toàn cầu và nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp.

Tuy nhiên theo thực tế, lãi suất cho vay thế chấp hiện vẫn biến động ngay cả khi lãi suất cơ bản của Mỹ đang ở mức thấp kỷ lục. Do đó, tác động của việc FED nâng lãi suất cơ bản lên lãi suất cho vay thế chấp dài hạn có thể sẽ rất nhỏ.

Một minh chứng điển hình cho kết luận này là thời điểm FED liên tục nâng lãi suất trong khoảng thời gian năm 2004 – 2006. Khi ấy, cơ quan này đã nâng lãi suất lên 5,24% (tháng 7/2006) từ 1% (tháng 1/2004). Trong 2 năm này, lãi suất cho vay thế chấp cố định kỳ hạn 30 năm (loại lãi suất được nhiều người tiêu dùng chọn lựa) dao động trong khoảng 6,34% – 6,8%. Điều này có nghĩa nếu FED tăng lãi suất cơ bản thêm hơn 4 điểm % thì lãi suất cho vay thế chấp sẽ chỉ tăng khoảng 0,5 điểm %.

Ngược lại, khi FED hạ lãi suất cơ bản xuống 0,16% hồi tháng 12/2008 từ mức 5,26% tháng 7/2007, lãi suất cho vay thế chấp cũng giảm xuống, dao động trong phạm vi 6,73% – 5,53%. Nói cách khác, nếu FED hạ lãi suất thêm 5%, lãi suất cho vay thế chấp sẽ chỉ giảm 1%.

5. Bất lợi cho thị trường chứng khoán

Nâng lãi suất chắc chắn sẽ làm tăng mức độ biến động trên các thị trường chứng khoán và có thể kéo giảm sức hấp dẫn của chứng khoán với giới đầu tư, CNN Money nhận xét. Tuy nhiên, phản ứng của thị trường chứng khoán với lãi suất thường khá đa dạng và phụ thuộc vào từng lĩnh vực.

Năm 2008, chuyên gia Kunaey Garg thực hiện một nghiên cứu về thị trường chứng khoán và kết luận giá cổ phiếu của những lĩnh vực có khối nợ lớn sẽ phản ứng mạnh mẽ hơn so với các lĩnh vực khác trước mỗi đợt FED thay đổi lãi suất.

Lần cuối cùng FED nâng lãi suất cơ bản là vào ngày 26/6/2006. Thị trường chứng khoán Mỹ đã phản ứng rất tích cực, với Dow Jones tăng 2%, theo USA Today. Tất nhiên vào thời điểm đó, thị trường chứng khoán Mỹ thấp hơn 4.900 điểm so với hiện tại.

So với năm 2006, bức tranh hiện tại của thị trường chứng khoán đã khác rất nhiều, do FED hạ lãi suất xuống cận 0% từ tháng 12/2008. Và từ tháng 6/2006 đến nay, Ngân hàng Trung ương Mỹ cũng chưa một lần nâng lãi suất.

Tuy nhiên, với rất nhiều đồn đoán xung quanh lãi suất cơ bản của Mỹ, thị trường chứng khoán lần này có thể sẽ phản ứng mạnh trong cả 2 trường hợp FED nâng lãi suất và không thay đổi chính sách. Phản ứng này được cho là chỉ diễn ra trong thời gian ngắn. Dù vậy, nếu hứng thú đầu tư của thị trường phụ thuộc nhiều vào cảm xúc hơn là yếu tố kỹ thuật, thị trường có thể sẽ phản ứng thái quá, dẫn tới biến động mạnh.

Nguồn VNExpress