Administrator January 22, 2015 No Comments

Vì sao “Ngân hàng bóng tối” bùng nổ?

Ngân hàng trong bóng tối đã góp phần gây nên khủng hoảng tài chính. Tuy nhiên, nếu được quản lý tốt hơn, chúng có thể giúp đảo ngược cuộc khủng hoảng tiếp theo.

info_icon  “Ngân hàng bóng tối” là gì?

Mới đây, Mark Carney – Thống đốc của NTHW Anh và là người đứng đầu Ủy ban ổn định tiền tệ (FSB, tổ chức quốc tế được lập ra để bảo vệ hệ thống tài chính trước các cuộc khủng hoảng trong tương lai) – được hỏi đâu là mối nguy hiểm lớn nhất đối với nền kinh tế thế giới. Ông đã chọn câu trả lời là hệ thống ngân hàng trong bóng tối ở các thị trường mới nổi.

Không ai có thể phủ nhận “ngân hàng trong bóng tối” (shadow banking) là có thể trở thành “ông ba bị” dọa nạt kinh tế toàn cầu. Hệ thống này đã phát triển nhanh chóng trên quy mô lớn, dưới những dạng thức khó nắm bắt. Nếu được sử dụng hiệu quả, chúng sẽ đem lại lợi ích trong khi nếu cơ quan quản lý lơ là, chúng sẽ vỡ tung và kéo theo hậu quả khôn lường.

FSB định nghĩa “ngân hàng trong bóng tối” là những khoản vay giữa các định chế tài chính không phải ngân hàng. Cơ quan này cũng thừa nhận hệ thống ngân hàng trong bóng tối chiếm khoảng 1/4 giá trị giao dịch trong hệ thống tài chính toàn cầu với quy mô tài sản tăng từ 26.000 tỷ USD cách đây 1 thập kỷ lên 71.000 tỷ USD tính đến đầu năm 2013. Ở một số nước, ngân hàng trong bóng tối còn phát triển với tốc độ nhanh hơn: ví dụ, ở Trung Quốc, chúng tăng trưởng 42% chỉ riêng trong năm 2012.

Tuy nhiên, vẫn có nhiều tranh cãi xung quanh vấn đề này. Điểm mấu chốt là tín dụng (mọi loại hình tín dụng, từ các công ty tín thác ở Trung Quốc cho tới các mô hình cho vay P2P ở châu Âu hay các quỹ thị trường tiền tệ). Một khái niệm rộng lớn hơn sẽ bao gồm bất cứ hoạt động nào giống như hoạt động ngân hàng được thực hiện bởi một công ty không được quản lý như một ngân hàng. Xét theo khái niệm này, “ngân hàng trong bóng tối” sẽ bao gồm cả hệ thống thanh toán qua điện thoại của Vodafone, nền tảng giao dịch trái phiếu được thiết lập bởi các công ty công nghệ hay các sản phẩm đầu tư mà BlackRock cung cấp cho thị trường.

The Economist cho rằng những dịch vụ này đang sinh sôi nảy nở bởi các ngân hàng chính thống đang chùn bước sau khi thua lỗ nặng trong khủng hoảng tài chính và bị kìm kẹp bởi quy định ngày càng siết chặt, yêu cầu về vốn tối thiểu bị nâng lên và những khoản phạt hàng tỷ USD.

Trong bối cảnh ấy, các ngân hàng buộc phải cắt giảm cho vay, đóng cửa một số bộ phận không cần thiết. Ví dụ, ở Mỹ, các ngân hàng đầu tư không còn được phép tự doanh. Kể từ năm 2007, các ngân hàng Anh đã cắt giảm khoảng 30% tín dụng cho doanh nghiệp. Và, mới đây nhất, Barclays khẳng định kế hoạch cắt giảm 14.000 nhân dự.

Ngân hàng trong bóng tối sinh ra để bù đắp những khoảng trống này.

Mong manh dễ vỡ

Nếu nói rằng Google có thể giúp mọi người có thể quản lý tiền bạc một cách hiệu quả hơn, điều này đáng được hoan nghênh. Tuy nhiên, vấn đề thuộc về tín dụng. Xét trên một số khía cạnh, hoạt động cho vay ở bên ngoài hệ thống ngân hàng đang nở rộ là điều tích cực.

Tuy nhiên, cũng có lý do buộc các ngân hàng phải được giám sát chặt chẽ: hiện tượng bất cân xứng về kỳ hạn (đi vay số tiền lớn trong ngắn hạn để cho vay trong dài hạn), tỷ lệ đòn bẩy quá cao và có mối quan hệ quá phức tạp với các định chế tài chính khác. Những đặc điểm này khiến chúng trở nên quá mỏng manh.

Khi hệ thống ngân hàng gặp rắc rối, người nộp thuế sẽ chịu thiệt bởi chính phủ bảo hiểm số tiền gửi và quá lo sợ để cho phép chúng sụp đổ.

Ông Carney đáng lẽ phải vui mừng hơn nếu như một công ty của Anh có thể nhận được khoản vay dài hạn từ quỹ hưu trí hoặc công ty bảo hiểm nhân thọ thay vì từ một ngân hàng. Nếu công ty đó không thể trả nợ, chủ nợ sẽ mất tiền nhưng không có tỷ lệ đòn bẩy quá cao và không gây rủi ro cho toàn hệ thống.

Tuy nhiên, nếu không được quản lý chặt chẽ, ngân hàng trong bóng tối trở nên hết sức nguy hiểm. Một trong những thủ phạm của khủng hoảng tài chính chính là các “công cụ đầu tư được tái cấu trúc” – sản phẩm được các ngân hàng tạo ra để bán những khoản nợ được đóng gói thành trái phiếu. Đây là những sản phẩm độc lập, nhưng sẽ gây nên rắc rối khi kéo theo cả ngân hàng đã tạo ra chúng.

Một nguồn bất ổn khác là các quỹ thị trường tiền tệ – nơi các tổ chức và cá nhân đầu tư tiền mặt dư thừa. Trước đây, các quỹ thị trường tiền tệ vẫn được cho là không có rủi ro. Tuy nhiên, rõ ràng là kết luận đó không chính xác.

Vấn đề của Trung Quốc

Thảm họa đã giúp các cơ quan quản lý rút ra những bài học hữu ích. Những ngân hàng trong bóng tối gây nên nhiều rắc rối nhất cũng có chênh lệch kỳ hạn lớn nhất hoặc không có đủ vốn để chịu lỗ. Không có gì đáng ngạc nhiên, các ngân hàng trong bóng tối vốn được tạo ra chỉ để tận dụng lợi thế quản lý lỏng lẻo trở thành bộ phận mỏng manh và cũng nguy hiểm nhất.

Cơ quan quản lý ở nhiều nước hướng đến mục tiêu xóa bỏ lợi thế này. Giờ đây, các ngân hàng phải hạch toán đầy đủ trên bảng cân đối kế toán. Các quỹ thị trường tiền tệ phải nắm giữ tài sản có tính thanh khoản cao hơn. Tỷ lệ đòn bẩy cũng được giới hạn.

Giống như ông Carney đã nói, làm cho các ngân hàng trong bóng tối an toàn hơn là công việc còn lâu mới được hoàn thành. Ví dụ, các nhà quản lý Mỹ vẫn đang để các quỹ thị trường tiền tệ tạo ấn tượng cho nhà đầu tư rằng họ không bao giờ mất tiền.

Tuy nhiên, mối nguy lớn nhất nằm ở Trung Quốc – nơi các ngân hàng bị cấm mở rộng cho vay ở một số ngành nhất định trong khi bị áp trần lãi suất tiền gửi. Chính sách quản lý này tạo điều kiện cho ngân hàng trong bóng tối bùng nổ dưới nhiều dạng thức.

Khủng hoảng ngân hàng trong bóng tối sẽ không khiến Trung Quốc sụp đổ bởi chính phủ có thể sử dụng các ngân hàng nhà nước để giảm bớt hệ lụy và có đủ tiền để lập lại trật tự. Tuy nhiên, Trung Quốc sẽ phải trả giá đắt. Ngân hàng trong bóng tối có thể khiến hệ thống tài chính an toàn hơn, nhưng chỉ khi mọi thứ trở nên rõ ràng.

Theo Tri Thức Trẻ – Economist.

Administrator January 22, 2015 No Comments

“Ngân hàng bóng tối” là gì?

Ngân hàng trong bóng tối đã trở thành hiện tượng ám ảnh Trung Quốc và Ấn Độ, đồng thời cũng bùng nổ ở các nước phương Tây.

Khái niệm

Các ngân hàng trong bóng tối (shadow banking) trên toàn cầu đã phát triển với quy mô có thể khiến người ta giật mình: hơn 70.000 tỷ USD. Ủy ban ổn định tài chính (FSB) cho rằng các ngân hàng trong bóng tối đem đến “những rủi ro mang tính chất hệ thống” cho hệ thống tài chính toàn cầu. Ngân hàng trong bóng tối đã trở thành hiện tượng ám ảnh Trung Quốc và Ấn Độ, đồng thời cũng bùng nổ ở các nước phương Tây.

Cụm từ “ngân hàng trong bóng tối” được dùng để chỉ những sản phẩm đầu tư ẩn chứa nhiều rủi ro, hoạt động cho vay tư nhân giữa các cá nhân, tiệm cầm đồ và hoạt động cho vay “cắt cổ” ở các thị trường mới nổi. Ngân hàng trong bóng tối cũng bao gồm những hoạt động được coi trọng hơn như giao dịch phái sinh, các quỹ thị trường tiền tệ, cho vay chứng khoán và thỏa thuận mua lại giữa các định chế tài chính ở châu Âu và Mỹ.

Đặc điểm chung của các hoạt động này là chúng phát triển rầm rộ ở bên ngoài hệ thống ngân hàng chính thức và thường nằm ngoài tầm kiểm soát của các nhà quản lý cũng như chính sách tiền tệ.

Ngân hàng trong bóng tối đã phát triển đến đâu?

Kể từ khi khủng hoảng tài chính toàn cầu bùng nổ năm 2008, hoạt động rủi ro của các ngân hàng đã bị thắt chặt. Theo FSB, năm 2012, quy mô của “ngân hàng trong bóng tối” đã tăng lên 71.000 tỷ USD – tức là tăng 5.000 tỷ USD mỗi năm. Báo cáo của FSB cũng cho thấy ngân hàng trong bóng tối ngày càng phát triển ở 70% trong số các quốc gia tham gia khảo sát.

Tình hình nghiêm trọng nhất ở Trung Quốc. Tháng 6/2013, nỗ lực hạn chế các sản phẩm quản lý tài sản của chính phủ Trung Quốc đã dẫn đến tình trạng căng thẳng tiền mặt tồi tệ nhất trong 1 thập kỷ. Giá trị của những khoản đầu tư này (vốn đem lại lãi suất cao trong ngắn hạn và không được đảm bảo) đã tăng lên mức 9.100 tỷ nhân dân tệ (tương đương 1.500 tỷ USD – gần bằng GDP của Australia).

Sự phát triển của ngân hàng trong bóng tối khiến người hiện đang là người đứng đầu Ủy ban chứng khoán Trung Quốc nhận định các sản phẩm nằm ngoài bảng cân đối kế toán của các ngân hàng là những sản phẩm theo mô hình Ponzi.

Tuy nhiên, người tiết kiệm ở Trung Quốc đã phản ứng với chính sách thắt chặt của chính phủ bằng tình trạng căng thẳng tiền mặt. Cuối tháng 12 vừa qua, thị trường tài chính Trung Quốc lại đứng trước nguy cơ khủng hoảng tín dụng, khiến lãi suất cho vay liên ngân hàng tăng vọt lên 8,8%. Đứng trước tình trạng căng thẳng, chính phủ Trung Quốc ra lệnh cho các ngân hàng không được sử dụng vị thế trung gian để vượt quá giới hạn khoản vay dành cho những người đi vay rủi ro, đồng thời yêu cầu tách bạch các sản phẩm quản lý tài sản.

Hệ lụy

Với lượng tiền khổng lồ nằm ngoài hệ thống chính thức, ngân hàng trong bóng tối khiến các nước như Trung Quốc và Ấn Độ khó có thể kiểm soát nền kinh tế bằng cách thay đổi lãi suất hoặc điều chỉnh lượng cung tiền. Ở Ấn Độ, tỷ lệ lạm phát vẫn ở mức trên 8% bất chấp lãi suất đã được nâng tổng cộng 13 lần chỉ trong 2 năm. Đơn giản là chính phủ không có đủ quyền lực chi phối nền kinh tế để có thể tạo ra ảnh hưởng.

Còn ở Trung Quốc, lãi suất tiền gửi ở mức 3% – thấp hơn lạm phát, đồng thời 97% doanh nghiệp nhỏ không thể tiếp cận với các khoản vay ngân hàng. Đây là điều kiện thuận lợi để ngân hàng trong bóng tối bùng nổ mạnh mẽ, lên đến 6.000 tỷ USD (tương đương 69% GDP Trung Quốc).

Ngân hàng trong bóng tối cũng tạo ra những nguy cơ bất ổn xã hội tiềm tàng bởi chính phủ không thể giải cứu như trường hợp một ngân hàng chính thức sụp đổ.

Các nhà quản lý ở Mỹ và châu Âu đã cảnh báo về những rủi ro phát sinh từ hoạt động ngân hàng của các công ty tài chính được kiểm soát lỏng lẻo, không có bảo hiểm tiền gửi cũng như những biện pháp bảo vệ khác.

Tranh cãi

Tại sao các chính phủ không thẳng tay dẹp loạn? Ở châu Âu và Mỹ, nỗi lo của các nhà quản lý được xoa dịu với những cuộc vận động hành lang của ngành tài chính. Còn ở các nền kinh tế đang phát triển, ngân hàng trong bóng tối là nhân tố giúp nền kinh tế vận hành trơn tru. Các doanh nghiệp nhỏ có được khoản vay mà họ cần, người tiết kiệm có được khoản lợi suất cao hơn tỷ lệ lạm phát.

Còn đối với những nền kinh tế như Trung Quốc và Ấn Độ, xóa bỏ ngân hàng trong bóng tối có thể là chính sách đúng đắn trong dài hạn, nhưng có thể khiến tăng trưởng chậm lại và tạo ra rủi ro trong ngắn hạn. Chính phủ các nước này biết rằng ngân hàng trong bóng tối là một mối nguy, nhưng tấn công vào khu vực này lại là một hành động khá liều lĩnh.

Theo Trí Thức Trẻ – Bloomberg

Administrator January 22, 2015 No Comments

Phe Bồ câu (Dovish) – Phe Diều hâu (Hawkish)

  • Chính sách tiền tệ liên quan đến lượng cung tiền trong nền kinh tế và giá của tiền (mức lãi suất).
  • Thường có một sự đánh đổi giữa tăng trưởng và lạm phát: tăng trưởng tiền nhanh hơn hay lãi suất thấp hơn có thể làm cho tốc độ tăng trưởng nhanh hơn nhưng cũng khiến lạm phát cao hơn.
  • Những người quan tâm hơn đến sự tăng trưởng và ít quan tâm đến lạm phát được ví như chim bồ câu, trong khi những người coi vấn đề giữ lạm phát thấp là mối quan tâm hàng đầu được ví như chim diều hâu.

Khi nói về thị trường chứng khoán hoặc các loại tài sản khác, người ta chia thành 2 phe: phe bò tótphe gấu. Người theo phe bò tót dự kiến ​​giá của tài sản đi lên, người theo phe gấu dự kiến ​​giá đi xuống.

Chính sách tiền tệ là một phần của chính sách kinh tế liên quan đến việc cung tiền và tín dụng cho nền kinh tế và giá của tiền (= lãi suất). Khi nói đến chính sách tiền tệ, người ta chia thành 2 phe: bồ câudiều hâu. Theo truyền thống, chim bồ câu là biểu tượng của hòa bình, trong khi diều hâu là biểu tượng của chiến tranh. Người theo phe bồ câu quan tâm đến tăng trưởng kinh tế và việc làm đồng thời ủng hộ một chính sách tiền tệ với lãi suất càng thấp càng tốt và một chính sách tín dụng tương đối dễ dàng. Những người theo phe diều hâu tập trung hơn vào nguy cơ lạm phát và ủng hộ một chính sách tiền tệ thắt chặt hơn với lãi suất cao và chính sách tín dụng chặt chẽ hơn. Hiện nay, phe bồ câu đang muốn duy trì các gói nới lỏng định lượng trong thời gian dài, trong khi phe diều hâu lại lo ngại rằng nó có thể gây ra lạm phát và do đó, họ muốn sớm kết thúc chương trình nới lỏng tiền tệ. Quan điểm của phe bồ câu ảnh hưởng không tốt đến giá USD (cung đôla càng nhiều = giá đô la càng thấp ), quan điểm phe diều hâu khiến USD mạnh hơn (lãi suất cao hơn, ít cung đô la hơn = đô la mạnh lên).

Đối với tất cả các ngân hàng trung ương, quan điểm của 2 phe bồ câudiều hâu đóng vai trò cực kì quan trọng. Trong Hội đồng quản trị ECB, các quốc gia Nam Âu muốn có một chính sách tiền tệ nới lỏng để hỗ trợ sự tăng trưởng trong giai đoạn khó khăn trong khi các quốc gia Bắc Âu đang lo ngại rằng chính sách tiền tệ nới lỏng sẽ loại bỏ áp lực cải cách nền kinh tế của nhiều quốc gia. Ngân hàng Bundesbank Đức chỉ quan tâm tới vấn đề lạm phát, vì kinh nghiệm thảm hại của đất nước trong những năm 1920 với lạm phát phi mã tại Weimar (vào đầu năm 1920 khoảng 7 mark = 1 USD; 1921 là 60 mark; vào tháng 11 năm 1923 là 4,2 nghìn tỷ mark. Kinh nghiệm này đã làm nước Đức “dị ứng” với lạm phát.)

Fed trở nên lập dị trong giới các ngân hàng trung ương khi có đến 2 nhiệm vụ: pháp luật yêu cầu Fed phải “thúc đẩy hiệu quả tối đa hóa mục tiêu việc làm và giữ giá cả ổn định. “Hầu hết các ngân hàng trung ương chỉ phải lo lắng về vấn đề lạm phát (đơn cử như nhiệm vụ của ECB là “duy trì ổn định giá cả khu vực châu Âu.”) Các thành viên của Ủy ban thị trường mở (FOMC) phân chia các luồng quan điểm tùy thuộc vào vấn đề quan điểm đó đặt nặng: giữ tỉ lệ có việc làm ở mức cao (phe bồ câu) hay giữ giá cả ổn định (phe diều hâu).

Trong một thời gian dài không có sự đánh đổi giữa việc làm và lạm phát: các quốc gia có lạm phát cao thường không có tỷ lệ thất nghiệp thấp hơn so với các quốc gia lạm phát thấp. Thực tế hoàn toàn ngược lại: lạm phát tăng cao gây khó khăn cho việc lập kế hoạch của các công ty và ngân sách, do đó gây ức chế sự tăng trưởng. Tuy nhiên, trong ngắn hạn và giới hạn nhất định, mối quan hệ này đôi khi bị phá vỡ (xem đồ thị). Ví dụ, lạm phát giảm từ 2% xuống còn 1% khả năng tỷ lệ thất nghiệp sẽ tăng, nhưng nếu để lạm phát tăng lên mức 15% sẽ không thể khiến tỷ lệ thất nghiệp giảm vĩnh viễn được.

Administrator January 19, 2015 No Comments

Trung Quốc sẽ là nước tiếp theo bãi bỏ tỷ giá?

Động thái bãi bỏ mức trần của đồng nội tệ so với euro của Thụy Sĩ tuần trước nhắc nhở chúng ta rằng thiệt hại có thể xảy đến bất ngờ do ảnh hưởng từ chiến tranh tiền tệ giữa các ngân hàng trung ương. Khi thị trường vừa hấp thụ dần thông tin gây shock tuần trước, mọi sự tập trung giờ đây đang chuyển sang các khó khăn khác trên bản đồ tiền tệ toàn cầu.

Cụ thể ở đây là Trung Quốc, giống như Thụy Sĩ, quốc gia này đã thực hiện chế độ neo tỉ giá và đang ngày càng gặp nhiều vất vả trong việc duy trì chính sách này.

Do chế độ neo tỉ giá hối đoái với đồng USD đã được thực hiện từ lâu, khiến giá đồng nhân dân tệ ngày càng cao hơn so với tất cả các loại tiền tệ chủ chốt. Nước xuất khẩu lớn nhất thế giới này đã phải chống chọi với việc dồng Yen giảm kể từ sự ra đời của Abenomics và gói nới lỏng định lượng đi kèm trong vòng 2 năm qua.

Tại một mặt trận khác, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) có vẻ đã sẵn sàng bật đèn xanh cho việc thực hiện gói QE vào tuần tới. Động thái của Thụy Sĩ cũng đồng nghĩa với việc Ngân hàng Quốc gia Thụy Sỹ (SNB) ngừng mua lượng euro cần thiết để duy trì việc neo tỉ giá của nước này, và điều này cũng có nghĩa là đồng euro sẽ tiếp tục rớt giá.

Nền kinh tế Trung Quốc hoàn toàn không muốn đồng nội tệ của họ mạnh lên thêm nữa. Cuối tuần này, tổng sản phẩm quốc nội năm 2014 dự kiến sẽ cho thấy tốc độ tăng trưởng chậm nhất trong vòng 24 năm qua, Trung Quốc có khả năng không đạt được mục tiêu tăng trưởng hàng năm của chính phủ 7,5%. Số liệu này sẽ được đưa ra, tại thời điểm mà nền kinh tế Trung Quốc đang phải đối mặt với nguy cơ giảm phát và một xu hướng mới: vốn nước ngoài chảy khỏi Trung Quốc.

Cú shock tiền tệ trong tuần trước sẽ gây ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng, do Trung Quốc sẽ gặp nhiều khó khăn hơn trong việc bán hàng xuất khẩu trên khắp châu Âu, thị trường lớn thứ hai của Trung Quốc sau Mỹ.

Một mối nguy hiểm khác lờ mờ hiện ra là một đồng tiền mạnh đang làm tăng nguy cơ giảm phát. Giá sản xuất đã giảm gần 3 năm nay, và giá dầu thô giảm là các nhân tố làm tăng xu hướng giảm lạm phát. Thị trường bất động sản cho thấy vẫn có khả năng giá còn có thể xuống thấp hơn nữa. Theo số liệu của chính phủ Trung Quốc mới phát hành cuối tuần qua, giá nhà mới ở các thành phố lớn đã giảm 4,3% trong tháng 12 so với một năm trước đó.

Khó khăn đối với Bắc Kinh là những biến động bên ngoài nằm ngoài tầm kiểm soát của họ. Nếu euro giảm, kích hoạt một đợt giảm giá tiền tệ để cạnh tranh trên toàn cầu, điều này dấy lên câu hỏi “Liệu Trung Quốc có thể chịu đựng nhân dân tệ tăng giá thêm bao nhiêu nữa?”

Trong khi các hành động chính sách của cả Thụy Sĩ và các ngân hàng trung ương châu Âu tuần qua có vẻ khác khác nhau, tuy vậy, chúng vẫn có chung một đặc điểm: “Cả hai đều hành động với sự miễn cưỡng và chỉ khi cơn đau đã trở nên quá giới hạn chịu đựng của họ.”

Lý do giảm phát trở thành kẻ thù số 1 của các ngân hàng trung ương do lo ngại việc cho vay sẽ trở nên khó khăn hơn và có thể làm ngừng tăng trưởng cũng như ảnh hưởng tới vấn đề việc làm khi người tiêu dùng dừng mua bán và đầu tư.

Nợ của Trung Quốc chắc chắn đang ở mức mà nguy cơ giảm phát là hết sức lo ngại. Tổng mức nợ hiện nay được đánh giá là vượt quá 250% của GDP. Tăng trưởng tín dụng ngân hàng thấp hơn dự kiến trong tháng cũng cho thấy nhu cầu của người dân đang yếu đi.

Các dòng vốn cũng đang thu hút nhiều sự quan tâm khi các nhà đầu tư đang rút vốn về do nhận định đồng nhân dân tệ không thể tiếp tục tăng giá. Trong quý vừa qua, xuất hiện những dấu hiệu của tiền nóng chảy khỏi Trung Quốc và dự trữ ngoại tệ bị đảo ngược. Dữ liệu quý IV năm 2014 cho thấy dự trữ ngoại hối của Trung Quốc đã giảm 48 tỉ đô la Mỹ xuống còn 3,84 nghìn tỉ đô la.Theo Bank of America, điều này có thể phản ánh cả một hiệu ứng định giá của thị trường ngoại hối và sự thất thoát vốn do đồng euro và yen lần lượt mất giá 4,2% và 9,3% so với đồng USD trong thời gian này.

Bank of America cho biết, trong quý IV số tiền rút khỏi thị trường Trung Quốc đã tăng từ 68 tỉ đô la Mỹ lên 120 tỷ USD. Trong khi đó, đã có dấu hiệu thanh khoản giảm. Số liệu mới nhất cho thấy cung tiền của Trung Quốc trong tháng 12 giảm, với mức tăng trưởng M2 giảm từ 12,3 % một tháng trước đó xuống còn 12,2% . Bank of America lưu ý rằng M0 – thước đo hẹp nhất của thanh khoản – đã phát triển rất chậm do sự sụt giảm trong việc mua ngoại tệ của Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBOC).

Sự kết hợp của các luồng tiền thoát khỏi thị trường và thanh khoản thấp cho thấy những thách thức của PBOC phải đối mặt. Nếu tốc độ rút vốn cao, Trung Quốc sẽ cần phải sử dụng thêm nhiều dự trữ ngoại hối để duy trì neo tỉ giá. Điều này sẽ làm giảm tính thanh khoản, trừ khi PBOC tìm được các biện pháp nới lỏng mới, trong số đó, yêu cầu dự trữ ngân hàng thấp hơn đang là biện pháp được chờ đợi trong năm nay.

Mối nguy hiểm đang rình rập ở đây là khả năng mất niềm tin vào nhân dân tệ, trong trường hợp này, trong trường hợp này, nguồn thanh khoản mới có thể lại là tác nhân tạo điều kiện cho vốn tiếp tục chảy ra khỏi Trung Quốc. Một kịch bản như vậy nhiều khả năng sẽ khiến quốc gia này theo chân Thụy Sĩ và thực hiện nới lỏng tiền tệ.

Theo: Tạ Quân tổng hợp.

Administrator January 13, 2015 No Comments

Đô la Úc yếu hơn có ý nghĩa gì với người tiêu dùng

Đồng đô la Úc giảm mạnh có vẻ là một điều tệ hại nhưng thực ra đây lại là tin tốt – giá một chiếc TV có thể đắt hơn nhưng ít nhất mọi người sẽ dễ dàng kiếm được việc làm hơn. Đồng đô la Úc đã rơi tự do trong 4 tháng qua, giảm mạnh từ 94 cent Mỹ hồi đầu tháng xuống mức thấp 5,5 năm 80,33 cent Mỹ trong tuần này. Tom Kennedy ,nhà kinh tế tại JP Morgan cho rằng đó là bởi vì đô la Úc đã đánh mất sự phổ biến trong cuộc đua với đô la Mỹ do nền kinh tế Mỹ đang mạnh lên và xuất hiện nhiều kì vọng xoay quanh việc Mỹ sẽ tăng lãi suất. Ông cũng cho rằng xét đến sự sụt giảm trong giá hàng hóa, các loại tiền tệ cũng cần được tổ chức lại. Đối với người tiêu dùng, một đồng tiền thấp hơn khiến giá hàng hóa và xăng tăng lên, nhưng đối với nền kinh tế tổng thể, đây lại là một tin tốt, Kennedy nói. “Một đồng tiền mạnh kiềm hãm sự phát triển của nền kinh tế Úc trong vài năm qua”. “Điều này thực sự tác động mạnh lên các lĩnh vực xuất nhập khẩu và du lịch và các ngành này đã phải đối mặt với nhiều rủi ro khi cạnh tranh với nước ngoài.” Đô la Úc suy yếu khiến nước Úc trở thành điểm đến hấp dẫn hơn đối với khách du lịch quốc tế và khuyến khích người dân Úc đi du lịch trong nước hơn là đi nước ngoài. Điều này cũng giúp các nhà xuất khẩu cải thiện tình hình do giá hàng hóa của họ trở thành một lợi thế so với các nền kinh tế có đồng tiền mạnh hơn, ông Kennedy nói. Đối với người tiêu dùng, giá cả hàng hóa có thể tăng lên nhưng sức khỏe nền kinh tế sẽ tốt hơn, và điều này tốt cho tất cả mọi người. “Ở cấp độ người tiêu dùng, một đồng đô la Úc thấp hơn chắc chắn sẽ ăn mòn sức mua và ở phương diện trực tiếp,điều này không phải là quá có lợi cho người tiêu dùng”, Kennedy cho biết. “Nhưng xét đến sự thật là tăng trưởng trở nên mạnh mẽ hơn, du lịch, sản xuất tốt hơn thì cuối cùng mức tăng trưởng kinh tế sẽ được nâng lên và mọi người đều được hưởng lợi. “Cơ cấu nền kinh tế Úc sẽ tốt hơn, tỷ lệ thất nghiệp thấp hơn, tăng trưởng mạnh hơn và mọi thứ sẽ tốt hơn một chút, đó là những gì chúng ta đã đánh mất trong vài năm qua.” Chiến lược gia tiền tệ cao cấp của Westpac Sean Callow nhận định đồng đô la Úc sẽ tăng trong nửa cuối năm nay. Đồng tiền có thể chạm mức 78 cent Mỹ trong nửa đầu của năm 2015 nhưng sẽ phục hồi trở lại và kết thúc năm ở mức 85 cent khi nền kinh tế Trung Quốc phục hồi và giá cả hàng hóa tăng, ông nói. Theo một cuộc khảo sát gần đây của AAP đối với những nhà giao dịch tiền tệ, dự báo trung bình là đồng đô la Úc sẽ kết thúc năm ở mức 77 cent Mỹ.

Theo: bpmj.wordpress.com tổng hợp từ Yahoo Finance

Administrator January 13, 2015 No Comments

Giá dầu xuống dưới 46 USD một thùng

Giá dầu thô kỳ hạn của Hoa Kỳ tiếp tục sụt giảm phiên thứ ba liên tiếp ngày hôm nay 13/1, sau khi giảm gần 5% trong hôm 12/1 do Goldman Sachs cảnh báo rằng giá sẽ giảm tiếp và các nhà sản xuất vùng Vịnh không đưa ra dấu hiệu cắt giảm sản lượng.

Những yếu tố cơ bản
– Dầu thô NYMEX kỳ hạn tháng 2 đã giảm 25 cent xuống 45,82 USD/thùng, sau khi chốt phiên hôm 12/1 giảm 2,29 USD xuống 46,07 USD/thùng. Hôm 12/1 giá dầu đã giảm xuống mức thấp 45,62 USD, thấp nhất kể từ tháng 4/2009.
– Dầu thô Brent London kỳ hạn tháng 2 vẫn chưa được giao dịch sau khi chốt phiên trướ giảm 2,68 USD xuống 47,43 USD.
– Goldman đã giảm dự báo giá dầu Brent trong 3 tháng xuống 42 USD/thùng từ mứ 80 USD/thùng, cho biết giá nhiên liệu cần ở mức thấp một thời gian dài để hạn chế sản lượng và kết thúc nguồn cung toàn cầu dư thừa. Họ đã cắt giảm triển vọng hợp đồng kỳ hạn Hoa Kỳ xuống 41 USD từ mức 70 USD/thùng.
– Trong bối cảnh những dấu hiệu các giếng khoan đá phiến của Hoa Kỳ giảm đi, số lượng giếng khoan dầu tại nhà sản xuất dầu lớn thứ 2 Hoa Kỳ, North Dakota đã giảm 8 giếng xuống 159, thấp nhất kể từ tháng 11/2010.
– Một hành động ngoại giao của Venezuela và Iran để OPEC cắt giảm sản lượng đã thất bại.
– Tồn trữ dầu thô thương mại của Hoa Kỳ được dự báo vẫn không đổi trong tuần kết thúc vào 9/1, trong khi dự trữ sản phẩm chưng cất và xăng có thể tăng hơn 2 triệu thùng, theo khảo sát sơ bộ của Reuters.

Tin tức thị trường
– Chứng khoán Hoa Kỳ giảm phiên thứ hai liên tiếp trong ngày hôm nay 12/1, dẫn dầu bởi cổ phiếu năng lượng sụt giảm do giá dầu lao dốc khoảng 5% và lo ngại ngày càng tăng trước mùa báo cáo lợi nhuận.
– Đồng đô la giảm so với đồng yên trong hôm nay với việc giao dịch biến động, áp lực bởi chứng khoán Hoa Kỳ yếu do triển vọng tích cực của đồng đô la đã phần nào giảm bớt bởi số liệu của Hoa Kỳ bất ngờ yếu.

 

Nguồn: Báo Mới – Vinanet/Reuters

Administrator January 8, 2015 No Comments

Chiến lược giao dịch cổ phiếu Alibaba

Bán lướt sóng cổ phiếu Alibaba tại giá 107$ cắt lỗ tại giá 112$, Chốt lời tại giá 97$
Đồng thời mua lại tại vùng giá 95-97$, cắt lỗ tại giá 92$, Chốt lời tại giá 103$ – 111$ – 119$

Chúc quý nhà đầu tư giao dịch thành công!

Administrator January 5, 2015 No Comments

Khó khăn cho đồng Euro sau diễn biến tồi tệ từ năm 2015

Giữa cuộc họp báo vào tháng 5 của Chủ tịch Ngân hàng Trung ương Châu Âu Mario Draghi tại Brussels, đồng euro đã leo lên mức cao nhất trong nhiệm kỳ của ông. Sau đó,Draghi nói rằng ECB đã sẵn sàng để thêm các biện pháp kích thích kinh tế, điều này đã khiến đồng euro suy yếu. Các chiến lược gia cho rằng diễn biến này sẽ vẫn tiếp tục trong năm 2015.

Đồng tiền chung châu Âu đã chạm mức $ 1,3993 trong ngày họp tháng 5 của ECB và kết thúc năm 2014 giảm 12 % so với đồng USD, mức giảm mạnh nhất kể từ năm 2005. Các chiến lược gia kinh tế, những người đã quá nhút nhát khi cho rằng euro sẽ xuống mức $ 1,28 trong năm 2014 giờ đây đang được chứng kiến một sự sụt giảm tại mức 1,18 $ vào cuối năm nay. Vào hôm thứ sau vừa qua, đồng euro đã chạm mức thấp trong bốn năm tại mức $ 1,2004.
Đồng Euro yếu hơn là chìa khóa cho các nước đi tiếp theo của Draghi khi ông đang cố gắng để thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế khu vực đang gặp khó khăn và tránh tình trạng giảm phát. Ông bắt đầu năm nay bằng những trả lời trên tờ báo của Đức Handelsblatt rằng không thể loại trừ nguy cơ giảm phát trong khu vực, củng cố việc các nhà hoạch định chính sách sẽ sớm bắt tay vào mua trái phiếu chính phủ, điều này một lần nữa tác động đến tỉ giá đồng tiền chung.
“Việc đưa đồng Euro suy yếu đã gặp nhiều khó khăn trong nửa đầu năm 2014 nhưng tình hình hiện tại khá khả quan do ECB đã đẩy được tỷ giá xuống,” Kit Juckes, chiến lược gia toàn cầu của Societe General SA tại London cho biết vào ngày 30 tháng 12 trong một cuộc phỏng vấn điện thoại. “Điều tốt nhất ECB có thể đi tiếp nước cờ vẫn là một đồng euro yếu hơn.”
Juckes dự báo đồng euro sẽ suy yếu còn 1,14 $ vào cuối năm nay, mức thấp nhất từng được chứng kiến lần cuối vào năm 2003.

Lạm phát xuống dưới mục tiêu của ECB
Trước tình hình lạm phát giảm xuống dưới mục tiêu của ECB (dưới 2 %) và triển vọng thị trường đối với giá tiêu dùng tiêu tan do giá dầu thô giảm, hơn 90 % số người được hỏi trong một cuộc khảo sát hàng tháng của Bloomberg vào tháng 12 dự đoán rằng ECB sẽ tăng cung đồng Euro bằng cách bắt đầu mua trái phiếu Chính phủ trong năm 2015.
“Nguy cơ chúng ta không hoàn thành nhiệm vụ ổn định giá cả đang trở nên cao hơn so với 6 tháng trước,” Draghi cho biết trong cuộc phỏng vấn với Handelsblatt. Trong giới hạn, nguy cơ giảm phát “không thể bị loại trừ hoàn toàn,” ông nói, và “chúng ta phải hành động chống lại các nguy cơ như vậy.”
Kể từ cuộc họp tháng 5, đây là lần đầu tiên ECB cắt giảm lãi suất huy động xuống dưới 0. và bắt đầu một chương trình cho vay cũng như mua chứng khoán có tài sản đảm bảo và trái phiếu được bảo hiểm. Cũng trong thời gian này, đồng USD đang tiếp tục mạnh lên do Cục Dự trữ Liên bang tiến gần hơn đến việc tăng lãi suất.

Draghi đang trở nên liều lĩnh hơn
Vào cuối năm ngoái, 44 trong số 59 nhà phân tích trong một cuộc khảo sát của Bloomberg cho biết đồng euro sẽ giảm so với đồng USD với dự đoán trung bình là cho đến ngày 31 tháng 12, euro sẽ giảm 2,5 % . Mức dự báo giảm này thấp hơn so với mức dự báo giảm tại cùng thời điểm của năm trước.
“ECB là khu vực có nhiều tiến triển nhất,” Michael Sneyd, chiến lược gia tiền tệ tại BNP Paribas SA tại London cho biết vào ngày 23 tháng 12. “Trong 12 tháng qua, Draghi đã trở nên liều lĩnh hơn. Quan điểm của chúng tôi trong năm tiếp theo là tỉ giá euro-dollar vẫn tiếp tục giảm”. BNP dự đoán euro sẽ giảm xuống mức 1,15 $ vào cuối năm 2015.
Một số chiến lược gia không tin rằng ECB có thể đẩy đồng tiền chung xuống thấp hơn nữa thậm chí ngay cả khi tổ chức này bắt đầu mua trái phiếu chính phủ theo kế hoạch của chương trình nới lỏng định lượng.

Nguy cơ
Draghi khẳng định trong cuộc phỏng vấn với Handelsblatt vào hôm thứ 6 rằng các quan chức sẽ vào cuộc nếu gói kích thích kinh tế hiện nay được xem là không đủ khi nó được đưa ra đánh giá vào đầu năm 2015. Ông cho biết vào ngày 4 tháng 12 rằng để thêm khoảng 1 nghìn tỉ euro vào bảng cân đối, ECB đang xem xét mua ” tất cả các tài sản ngoại trừ vàng “.
“Tôi muốn xem làm thế nào điều này diễn ra, chắc chắn phải qua tháng 1 thì mới có thể đưa ra kết luận chính xác được” Jane Foley, chiến lược gia ngoại hối cao cấp tại Rabobank International ở London, cho biết trong một cuộc phỏng vấn ngày 23 tháng 12.
Foley dự báo đồng euro sẽ kết thúc năm 2015 tại $ 1,20 và thấy trước được “nguy cơ sụt giảm”, cô cho biết. “Rất khó để đưa ra kết luận chắc chắn về khả năng chương trình nới lỏng định lượng sẽ thành công trong việc khiến euro tiếp tục suy yếu bởi vì nếu có quá nhiều điều đã được làm để khiến euro giảm, liệu đồng euro sẽ còn xuống thêm được bao nhiêu nữa?”
Các nhà giao dịch quyền chọn đang phải trả nhiều hơn bao giờ hết trong hơn một năm để bảo vệ việc suy giảm của đồng euro, khu vực này sẽ có 19 quốc gia vào đầu năm 2015. Phí quyền chọn 1 năm để bán đồng euro là 155 điểm cơ bản. Vào ngày 18 tháng 12, nó đã chạm mốc 159,5 điểm cơ bản, mức cao nhất kể từ tháng 10 năm 2013. Theo dữ liệu từ Bloomberg, các nhà giao dịch đang sẵn sàng trả giá cao hơn cho các quyền chọn để bán euro cho mỗi khoảng thời gian từ 1 ngày đến 10 năm.
“Nhìn vào năm 2015, tôi nghĩ rằng chúng ta sẽ tiến tới một mức giá phản ánh tình hình của nền kinh tế và chính sách tiền tệ,” Simon Derrick, chiến lược gia tiền tệ tại Bank of New York Mellon Corp ở London, cho biết vào ngày 22 tháng 12. “Mức 1,10 đô la có vẻ đúng cho năm tiếp theo. Vài tuần đầu trong năm sẽ là thời điểm mọi người cần phải thận trọng, nhưng về tổng thể, tôi nghĩ rằng đồng euro sẽ đi xuống. Điều này hoàn toàn có thể xảy ra.

Nguồn: http://www.bloomberg.com

Administrator January 5, 2015 No Comments

Tiếp tục để lãi suất thấp – Đồng Euro tiếp tục giảm

Đồng đô la Mỹ bước vào năm 2015 một cách mạnh mẽ, giá trị của nó tăng lên mức cao nhất trong vòng chin năm với một chỉ số theo dõi giá trị của nó so với rổ tiền tệ khác, điêu này được thúc đẩy bởi những kỳ vọng rằng Fed sẽ tăng lãi suất trong năm nay.
Nhấn mạnh sự khác nhau giữa lập trường của Fed và các ngân hàng trung ương lớn khác, Chủ tịch Ngân hàng Trung ương châu Âu Mario Draghi phát biểu với tờ Handelsblatt của Đức trong một cuộc phỏng vấn được công bố hôm nay rằng lãi suất trong khối sẽ được thiết lập ở mức thấp trong thời gian lâu hơn.
Ông Draghi cũng cho biết việc chuẩn bị ” thay đổi khối lượng, tiến độ và nội dung của các biện pháp mà ECB đưa ra vào năm 2015, nếu cần thiết, để đáp ứng với một giai đoạn lạm phát quá thấp,” thổi bùng suy đoán rằng chương trình mua trái phiếu chính phủ sẽ được khởi động sớm.
Điều đó đẩy lợi suất trái phiếu chính phủ Tây Ban Nha và Ý euro xuống mức thấp ky lục 1,52% và 1,77%. Lợi suất trái phiếu chính phủ 10 năm tại Đức cũng giảm tới một kỷ lục mới ở mức 0,52%. Lợi suất trái phiếu giảm bởi việc giá của nó tăng lên.
Đồng euro đã sụt giảm sau công bố trên, tuy nhiên các chiến lược gia cho rằng động thái này phần nhiều do Đồng USD đang tăng mạnh mẽ, được thúc đẩy bởi các số liệu kinh tế rất tốt gần đây, điều này dấy lên hy vọng một đợt tăng lãi suất sắp xảy ra.
Đồng euro giảm 0,2% xuống 1,2035 $, đánh dấu mức thấp nhất kể từ tháng Sáu năm 2010, trong khi đồng bảng Anh chạm mức thấp nhất so với đồng USD kể từ tháng Tám năm 2013. USD cũng đạt mức cao mới so với các đồng tiền tại các thị trường mới nổi như Thổ Nhĩ Kỳ và Brazil.
Chỉ số niềm tin tiêu dùng Mỹ tăng lên mức cao nhất trong hai tháng ở mức 92,6, tăng từ mức 91,0 trong tháng mười một. Người tiêu dùng là động lực chính của tăng trưởng kinh tế tại Mỹ, đặc tư, khi các hộ gia đình mua quà tặng và các mặt hàng khác trong mùa nghỉ lễ cuối năm. Vào ngày thứ Sáu, chỉ số S & P 500 cũng tăng 0,5% trong phiên mở cửa
Tại các thị trường chứng khoán châu Âu hình ảnh pha trộn hơn.
Sau khi giảm mạnh khi số liệu sản xuất khu vực châu Âu được công bố yếu hơn so với dự kiến, chỉ số Stoxx Europe 600 sau đó đã tăng lại với hy vọng rằng các số liệu yếu hơn cũng có thể gây áp lực nhiều hơn để ECB sớm đưa ra hành động.
Ông Speranza nói rằng ông vẫn tiếp tục kỳ vọng ECB sẽ công bố một sự mở rộng cho chương trình mua tài sản của mình, bao gồm cả việc mua trái phiếu chính phủ, tại cuộc họp tiếp theo của mình vào ngày 22 tháng 1.